Đề xuất ‘Khu vực Hòa bình’: giải pháp đảo ngược đi đúng hướng

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-10-21-de-xuat-khu-vuc-hoa-binh-giai-phap-dao-nguoc-di-dung-huong

Thứ ba, ngày 01 tháng 10 năm 2013 | 15:40 (GMT+7)

Tác giả: Lê Trung Tĩnh và Dương Danh Huy

Bài đã được xuất bản.: 21/10/2011 06:00 GMT+7

Ngày 22-23 tháng 9 năm 2011, các chuyên gia luật biển của 8 trong 10 thành viên Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) họp để thảo luận đề xuất của Philippines về việc Biển Đông thành một “Khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị và Hợp tác.” Kết quả thảo luận của họ sẽ được báo cáo ở Hội nghị quan chức cao cấp ASEAN, Hội nghị này sẽ đưa ra các khuyến nghị cho các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN trước ngày Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 19 được tổ chức vào tháng 11 năm 2011 sắp tới tại Bali.

Tại cuộc họp, Phó Tổng thống Philippines Jejomar Binay phát biểu rằng, đề xuất của Philippines tập trung vào việc khoanh vùng các khu vực tranh chấp ở Biển Đông mà các bên tranh chấp sau đó có thể thoả thuận để cùng hợp tác phát triển ở đó. Những khu vực không đang trong tình trạng tranh chấp sẽ là vùng đặc quyền riêng của các quốc gia đang sở hữu chúng.

Đề xuất của Philippines thể hiện một nỗ lực nhằm chế ngự một cuộc xung đột khó giải quyết trong nhiều thập kỉ, với cách tiếp cận này Philippines tin rằng sẽ có rất nhiều khả năng được nhiều nước chính trong cuộc chấp nhận nhất. Để hiểu được những lợi điểm của đề xuất này, cần xem xét cách tiếp cận thông thường trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông, và sau đó so sánh nó với giải pháp nghịch. Giải pháp nghịch chính là nguyên tắc cơ bản ẩn sau đề nghị này.

Cách tiếp cận thông thường: trước hết phải xác định quyền sở hữu đảo

Cách tiếp cận thông thường để giải quyết tranh chấp Biển Đông, trước tiên phải xác định quyền sở hữu của các đảo có tranh chấp, rồi sau đó mới xác định có bao nhiêu phần biển thuộc mỗi đảo này.

Vì hầu như không có khả năng các bên tranh chấp sẽ từ bỏ yêu sách của mình đối với các đảo, nên hi vọng hiện thực duy nhất để xác định quyền sở hữu đảo là đưa các vụ tranh chấp ra tòa án quốc tế. Ví dụ, Tòa án Công lý quốc tế đã xử nhiều trường hợp tranh chấp đất liền và đảo. Sau đó, độ rộng vùng biển thuộc mỗi đảo sẽ được xác định hoặc thông qua thương lượng hoặc bằng cách đưa vấn đề ra một tòa án quốc tế. Trong hai cách [xác định vùng biển] này, cách nào có thể cũng sẽ sử dụng Công ước về Luật biển của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS) và các luật pháp quốc tế khác liên quan về phân định ranh giới trên biển.

Tuy nhiên, do TQ chống lại việc sử dụng tòa án quốc tế để giải quyết các tranh chấp, và không có nước nào từ bỏ yêu sách của mình đối với các đảo nếu không có phán quyết của tòa án; cho nên, triển vọng giải quyết vấn đề quyền sở hữu đảo rất bé. Vì vậy, mặc dù trên lí thuyết phương pháp tiếp cận truyền thống này có thể giải quyết tranh chấp hoàn toàn, nhưng trong thực tế giải pháp truyền thống không giúp giải quyết được gì.

 

Vấn đề của tình trạng này nằm ở chỗ các bên tranh chấp bị vướng mắc vĩnh viễn ngay tại bước đầu tiên, điều đó có nghĩa là họ không bao giờ đi đến được vòng xác định vùng biển thuộc mỗi đảo. Điều này cho phép Trung Quốc hành động như thể hầu như toàn bộ Biển Đông đều trong tình trạng tranh chấp, do đó bãi James, một phần của biển Natuna, Bãi Cỏ Rong, bãi cạn Vanguard, lô 127 và 128 ngoài khơi bờ biển Việt Nam bị liệt vào loại “lãnh thổ có tranh chấp”.

Cách tiếp cận nghịch: xác định vùng biển  thuộc mỗi đảo trước

Qua các vấn đề còn tồn tại đã nêu trên bởi cách tiếp cận truyền thống, các bên ở Đông Nam Á bắt buộc phải sử dụng cách tiếp cận khác trong việc giải quyết các tranh chấp.

Thay vì cứ chờ đợi câu trả lời cho câu hỏi về quyền sở hữu đảo, các bên tranh chấp nên theo giải pháp nghịch: đó là xác định phạm vi vùng biển thuộc về mỗi đảo tranh chấp trước. Điều này có thể được thực hiện qua đàm phán hoặc bằng cách đưa vấn đề ra tòa án quốc tế. Một đảo có vùng biển của nó rộng mức nào là tuỳ thuộc vào tình trạng địa lí của nó chứ không phải phụ thuộc vào ai sở hữu nó. Vì vậy, câu trả lời cho câu hỏi này sẽ độc lập và không bị định kiến đối với câu hỏi về quyền sở hữu hòn đảo.

Một khi độ rộng vùng biển thuộc mỗi đảo đã được xác định, phạm vi tranh chấp Biển Đông cũng sẽ được xác định: các tranh chấp sẽ chỉ bao gồm các đảo tranh chấp và vùng biển thực sự thuộc về mỗi đảo đó mà thôi.

Dĩ nhiên, những vùng biển không thuộc các đảo tranh chấp phải được coi là các khu vực không có tranh chấp. Những vùng biển này sẽ thuộc về các nước xung quanh Biển Đông bằng cách áp dụng UNCLOS và luật pháp quốc tế về phân định ranh giới biển, không bị các tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ảnh hưởng tới.

Mặc dù xác định phạm vi các tranh chấp ở Biển Đông không giải quyết được hoàn toàn các tranh chấp, nhưng đó sẽ là tiến bộ đáng kể nhất trong chế ngự các tranh chấp trong nhiều thập kỉ qua.

Ví dụ, dù có rất nhiều bàn luận về Tuyên bố ứng xử năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc (DOC) và ý tưởng về một Bộ quy tắc ứng xử mới(COC), những công cụ này có một thiếu sót cơ bản nếu chúng không xác định ra phạm vi của các tranh chấp. Rõ ràng, các cách ứng xử khác nhau mong muốn tùy thuộc vào vùng biển liên quan là một vùng biển có tranh chấp hay không có tranh chấp; vì thế, khái niệm về một cách ứng xử thích hợp cho tất cả mà không có sự phân biệt khu vực tranh chấp và không có tranh chấp sẽ không hữu ích. Do đó, cần xác định rõ phạm vi của các khu vực có tranh chấp, cách ứng xử mong muốn cho những khu vực đó, và một cách ứng xử khác cho các khu vực không có tranh chấp.

Một ví dụ khác, xem xét đề nghị của Trung Quốc “gác tranh chấp chủ quyền, cùng khai thác các nguồn tài nguyên”. Về lí thuyết, đề nghị này nghe có vẻ hợp lí. Trong thực tế, nó chỉ hợp lí nếu cùng nhau khai thác trong khu vực tranh chấp, và các phạm vi của khu vực tranh chấp đã được tất cả các bên sự đồng ý. Hiện nay, Trung Quốc còn yêu cầu khai thác chung rất tùy tiện, cả trong các khu vực cách xa bờ biển TQ tới 700 hải lí, nằm bên trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí từ bờ biển Philippines và Việt Nam, và gần các vùng lãnh thổ không thể tranh cãi của hai nước này hơn là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang tranh chấp. Điều này rõ ràng là bất hợp lí và đó là lí do tại sao đề nghị của Trung Quốc dường như hợp lí lại không khả thi. Cách tiếp cận nghịch, tức là, trước tiên xác định khu vực tranh chấp một cách phù hợp với luật pháp quốc tế, đây là điều kiện tiên quyết cho ý tưởng “gác lại tranh chấp chủ quyền, cùng nhau khai thác các nguồn tài nguyên” để khiến chúng có thể được thực thi.

Xác định phạm vi các khu vực tranh chấp cũng sẽ cải thiện tình hình an ninh trong vùng Biển Đông. Trước hết, các tranh chấp sẽ nằm trong các khu vực được xác định thay vì lây lan tùy tiện. Thứ hai, đồng ý về những gì là tranh chấp làm giảm thiểu các bất tương xứng về kì vọng của các nước tranh chấp, chính điều này cũng làm giảm khả năng xảy ra các sự cố liên quan đến việc sử dụng vũ lực.

Đề nghị về “Khu vực Hòa bình” của Philippines

Đề nghị về “Khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị và Hợp tác” của Philippines dựa trên việc xác định các khu vực tranh chấp và các khu vực không tranh chấp ở Biển Đông. Như phân tích này cho thấy, mặc dù cách tiếp cận đó tự nó không giải quyết được tranh chấp, nó lại là cơ sở cần thiết cho việc chế ngự chúng.

Bản thân đề nghị này vẫn còn chứa một số chi tiết mà các bên tranh chấp khác có thể không chấp nhận và vẫn cần thương lượng thêm. Tuy nhiên, nguyên tắc chính của nó, đó là khoanh vùng Biển Đông thành các khu vực tranh chấp và các khu vực không có tranh chấp theo luật pháp quốc tế, là hợp lí, và cách tiếp cận này đáng để được tất cả các bên tranh chấp xem xét và đàm phán nghiêm túc.

Các nước Đông Nam Á có tranh chấp có vẻ ủng hộ đề nghị này, ít nhất là trên nguyên tắc, nhưng Trung Quốc thì không.

Trung Quốc phản đối cuộc họp ngày 22-23 tháng 9 của các chuyên gia luật biển ASEAN, bề ngoài với lí do rằng cuộc họp này cũng có các chuyên gia luật biển từ các nước không có tranh chấp bên ngoài tham dự. Tuy nhiên, các quốc gia thành viên ASEAN cũng có quyền tham khảo ý kiến nhau và quyết định liệu họ có đồng ý hay không đồng ý với nhau, lí do Trung Quốc viện dẫn là không hợp lí. Có nhiều khả năng dẫn đến sự phản đối của TQ bắt nguồn từ lí do sâu xa hơn, đó là họ chống lại việc khoanh vùng phân biệt các khu vực tranh chấp và các khu vực không tranh chấp theo luật pháp quốc tế, bởi vì làm như vậy gần như chắc chắn sẽ loại trừ ra bất kì yêu sách chủ quyền biển nào tương đương với đường chữ U về mặt địa lí.

Trước đó, vào tháng 7, Philippines đã đề xuất với Trung Quốc cùng ra Toà án quốc tế về Luật Biển để làm rõ các khu vực đang tranh chấp và không. Đề nghị tháng 7 đó đã không được TQ chấp nhận.

Qua đó ta thấy Trung Quốc dường như muốn phản đối sự khoanh vùng các khu vực tranh chấp và các khu vực không có tranh chấp ở Biển Đông bằng ngoại giao lẫn pháp lý.

Dù có sự phản đối của Trung Quốc chăng nữa, các bên tranh chấp ASEAN vẫn nên tiếp tục bàn thảo, đàm phán và đi đến một thỏa thuận với nhau về vấn đề này. Một thỏa thuận sẽ đem lại cho họ một lập trường chung trong việc đối phó với Trung Quốc, và điều đó sẽ cho thế giới nói chung và người dân Trung Quốc nói riêng thấy những gì là hợp lí và những gì bất hợp lí.

Đề nghị về”Khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị và Hợp tác” của Philippines là một sáng kiến quan trọng đi đúng hướng. Các câu hỏi được đặt ra bây giờ là liệu các bên tranh chấp ASEAN có đủ tầm nhìn và kĩ năng để vượt qua những khác biệt nhỏ trong việc khoanh vùng các khu vực tranh chấp và không có tranh chấp ở Biển Đông hay không? và nếu TQ Quốc tiếp tục phản đối thì liệu các nước này có đủ ý chí để tiến hành những gì họ cho là đúng và trọng yếu trong việc bảo vệ quyền lợi của họ hay không? Các nước không tranh chấp bên ngoài với lợi ích hợp pháp có thể có trong vùng Biển Đông theo luật pháp quốc tế, bao gồm cả UNCLOS, cũng nên hỗ trợ các nỗ lực để đạt tiến bộ trong theo hướng này.

Các tác giả cảm ơn Trần Xuân Trường về các ý kiến đóng góp quý báu.

  • Phan Văn Song – Hoàng Anh Tuấn Kiệt dịch theo Diplomat

 

 

 

A South China Sea Plan

http://thediplomat.com/2011/10/a-south-china-sea-plan/

The Diplomat

ASEAN Beat

Image Credit: US Navy

Defining the maritime space belonging to South China Sea islands might offer a path toward resolving disputes.

By Huy Duong & Tinh Le

October 20, 2011

The logical way to properly resolve the South China Sea disputes would first be to determine the ownership of the disputed islands, and then determine how much of the sea belongs to each island. However, given China’s opposition to using an international court or tribunal to resolve the disputes, and given that without a court ruling, no nation will give up its claim to the islands, there’s little prospect of resolving the question of island ownership any time soon.

The problem is that the claimants are stuck indefinitely at the first step, which means they never get around to defining the maritime space belonging to each island. This allows China to act as if most of the South China Sea were disputed, thus bringing the James Shoal, part of the Natuna Sea, the Reed Bank, the Vanguard Bank and Blocks 127 and 128 off the coast of Vietnam into the category of ‘disputed territory.’

Given the problems with the conventional approach, then, it’s imperative that Southeast Asian parties to the dispute find an alternative method – rather than wait for the answer to the question of island ownership, the claimants should do the reverse and first define the extent of the maritime space belonging to each disputed island. This can be done through negotiations or by submitting the question to an international court or tribunal.

How much maritime space belongs to an island obviously depends on the physical geography of that island when compared with surrounding territories, not on who owns it. Therefore, it should be possible to address this question independently of, and without prejudice to, the issue of island ownership.

Once the extent of the maritime space belonging to each island has been defined, the extent of the South China Sea disputes is also defined: those disputes comprise the disputed islands and the area of the sea that actually belongs to each island.

Although defining the extent of the South China Sea disputes doesn’t in itself resolve the problem, it would be the most significant progress forward in decades in managing this issue. For example, while much has been said about the Declaration of Conduct from 2002 between ASEAN and China, as well as on the idea of a new Code of Conduct, these instruments both have a fundamental shortcoming: they don’t define the extent of the disputes. Clearly, different action is necessary depending on whether a disputed or an undisputed area is concerned. It’s therefore necessary to define the extent of the disputed areas before devising the best approach for each area.

As another example, consider China’s proposal of shelving the sovereignty disputes and jointly exploiting the resources. In theory, that sounds like a reasonable proposal. In practice, it’s only reasonable if the joint exploitation is in disputed areas – the problem being, of course, that the extent of the disputed areas haven’t been agreed on by all parties. At the moment, China is demanding joint exploitation arbitrarily, in areas that are up to 700 nautical miles from the coast of China, but which are well within the 200 nautical mile EEZ of the coasts of the Philippines and Vietnam, and closer to those nations’ undisputed territories than to the disputed Paracels and Spratlys. This is clearly unreasonable, and it’s why China’s seemingly reasonable proposal isn’t actually workable. Defining the disputed area in a way that is consistent with international law is a prerequisite for any joint exploration.

Ultimately, defining the extent of the disputed areas would also improve security in the South China Sea. First, the disputes would be contained in clearly marked areas, rather than being expanded arbitrarily. Second, agreeing on what is actually in dispute would reduce mismatched expectations among claimants, which would, in turn, reduce tensions and the likelihood of incidents involving the use of force.

Huy Duong contributes articles on the South China Sea to several news outlets including the BBC and Vietnam’s online publication VietNamNet.