Nhóm Biển Đông tại Pháp: Đấu tranh mạnh mẽ bảo vệ chủ quyền quê hương

http://vov.vn/nguoi-viet/kieu-bao/nhom-bien-dong-tai-phap-dau-tranh-manh-me-bao-ve-chu-quyen-que-huong-338821.vov

http://vietbao.vn/Nguoi-Viet-bon-phuong/Nhom-Bien-Dong-tai-Phap-Dau-tranh-manh-me-bao-ve-chu-quyen-que-huong/181338822/283/

Thứ 2, 11:08, 14/07/2014

Top of Form

Nhóm Biển Đông tại Pháp: Đấu tranh mạnh mẽ bảo vệ chủ quyền quê hương

VOV.VN – Hoạt động theo tiêu chí “duy lý và hòa bình”, nhóm Biển Đông tại Pháp là cầu nối chuyển tải các thông tin, kiến thức về Biển Đông đến cộng đồng người Việt Nam tại Pháp, người Pháp và đến toàn thế giới.

Nhóm Biển Đông tại Pháp thành lập từ tháng 6/2011 sau những cuộc biểu tình phản đối ở khắp nơi trên thế giới về hành vi Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 2 trong thềm lục địa Việt Nam. Cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc ở Paris lúc đó chính là cơ hội để những người từ lâu quan tâm đến vấn đề này nhận thấy cần phải thành lập nhóm Biển Đông tại Pháp để làm việc hiệu quả hơn, phối hợp với nhau tốt hơn. Ngay sau đó, các thành viên của nhóm đã ngồi lại với nhau xác định đây là công việc đấu tranh lâu dài bởi vậy nhóm cần phải có những kế hoạch, bước đi bài bản để góp phần thúc đẩy giải quyết vấn đề.

Khoảng 1000 người Việt các thế hệ ngày 16/5 đã tham gia cuộc biểu tình hòa bình tại quảng trường Trocadero ở thủ đô Paris, Pháp phản đối hành động của Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. (ảnh: Thuỳ Vân/VOV-Paris)

Về tên gọi nhóm “Biển Đông tại Pháp”, Tiến sỹ Lê Trung Tĩnh, thành viên của nhóm cho biết: “Chúng tôi cố gắng giữ một tên gọi đơn giản nhất có thể. Để là thành viên của hội thì chỉ cần họ có sự quan tâm đặc biệt với vấn đề Biển Đông trên tinh thần khoa học, duy lý, cống hiến hết mình vì câu chuyện Biển Đông của Việt Nam, không chỉ hết mình vì tinh thần ái quốc mà còn là tinh thần hết mình trong tinh thần yêu sự thật, yêu lẽ phải và đấu tranh cho lẽ phải đó”.

Thành viên chủ chốt của nhóm hiện có khảng hơn 10 người. Hiện nay người đứng đầu luân phiên là anh Trần Bằng, anh Nguyễn Đức Khương- GS Kinh tế tại Paris, TS sinh học Nguyễn Hoài Tưởng.

Kỹ sư Trần Bằng, phụ trách nhóm cho biết: “Nhóm hoạt động trên 2 phương diện nghiên cứu và vận động, chủ yếu liên quan đến thông tin để làm sao những ai quan tâm đến vấn đề Biển Đông biết được để cũng những hội, nhóm và các tổ chức khác quan tâm đến Việt Nam, làm sao để thông tin liên quan đến Biển Đông, liên quan đến Việt Nam, Trung Quốc đến rộng rãi nhất có thể. Về lĩnh vực nghiên cứu, nhóm Biển Đông tại Pháp chủ yếu nghiên cứu trên các  mảng pháp lý và chiến lược. Chiến lược có thể hiểu là cả an ninh, quốc phòng”.

Kỹ sư Trần Bằng – phụ trách nhóm Biển Đông tại Pháp

“Chúng tôi cố gắng làm những việc đơn giản nhất. Mặc dù mới chỉ 3 năm thành lập nhưng chúng tôi đã cố gắng để làm những việc đơn giản nhất như vận động học sinh, sinh viên tại Pháp hiểu về vấn đề này hơn, trình bày trong những hội thảo trong cộng đồng người Việt”, Tiến sĩ Lê Trung Tĩnh nói.

Bên cạnh việc tổ chức những buổi toạ đàm, hội thảo, nhóm cũng tiến hành những buổi biểu tình ôn hòa với những thông điệp chính xác, đúng lúc như “nói không với đường lưỡi bò”, phản đối Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép Hải Dương 981.

Tác giả và tiến sĩ Lê Trung Tĩnh (bên trái), thành viên nhóm Biển Đông tại Pháp

“Gần đây chúng tôi tổ chức Quỹ nghiên cứu Biển Đông tập hợp những trí thức trên khắp thế giới về vấn đề biển Đông. Chúng tôi đã thảo một lá thư gửi Liên Hợp Quốc, gửi Tổng thư kí LHQ, gửi tòa án quốc tế, gửi Ban pháp lý Quốc tế của LHQ nhân sự kiện 40 năm Trung Quốc lấn chiếm Hoàng Sa như muốn nhắc lại một lần nữa để khẳng định đó là hành vi vi phạm mọi nguyên tắc bình thường của mọi quốc gia trên thế giới, vi phạm Hiến chương LHQ và đồng thời muốn nhắc nhở thế giới về sự kiện Trung Quốc chiếm đoạt Hoàng Sa Việt Nam và đưa vụ việc này ra giải quyết ở tòa án công lý quốc tế. Lá thư chúng tôi đã vận động trong thời gian ngắn với 15.588 chữ kí”, Tiến sĩ Lê Trung Tĩnh cho biết.

Hoạt động của Nhóm Biển Đông gặp nhiều thuận lợi vì nó đáp ứng được tinh thần yêu nước, hướng về tổ quốc của đông đảo người Việt Nam sinh sống và làm việc tại Pháp. Không chỉ vậy, hoạt động của nhóm còn nhận được sự hậu thuẫn lớn từ những người bạn bè Pháp.

Cuộc biểu tình do nhóm Biển Đông tại Pháp và các hội đoàn người Việt phát động đến tất cả những thế hệ người Việt tại Pháp yêu quê hương Tổ quốc. (ảnh : Thuỳ Vân/VOV-Paris)

“Những lần chúng tôi kêu gọi biểu tình ôn hòa đồng bào Việt Nam tại Pháp thậm chí cả những người Pháp đều ủng hộ to lớn. Chúng tôi rất xúc động trước sự ủng hộ của họ. Tôi muốn cảm ơn nước Pháp vì đã tạo cho chúng tôi thời gian ngoài công việc thì họ cũng tạo thời gian cho chúng tôi những hoạt động bên lề. Và chúng tôi chọn nghiên cứu biển Đông vì đó là sự đam mê, yêu đất nước Việt Nam, yêu lẽ phải đang bị Trung Quốc chà đạp”, Tiến sỹ Lê Trung Tĩnh nói./.

Trà Xanh/VOV.VN

Bottom of Form

 

Kiện Trung Quốc và các ảnh hưởng kinh tế

http://nguoidothi.vn/kien-trung-quoc-va-cac-anh-huong-kinh-te.ndt

Kiện Trung Quốc và các ảnh hưởng kinh tế

— 07-07-2014 12:50:24

LTS. Bốn mươi năm qua, không chỉ chiếm đóng các đảo của Việt Nam, Trung Quốc còn áp đặt quyền chủ quyền lên các vùng biển quanh Hoàng Sa. Những năm gần đây, các cơ quan chấp pháp trên biển của Trung Quốc liên tục bắt giữ, xua đuổi ngư dân Việt Nam hoạt động trong ngư trường truyền thống hàng trăm năm nay ở quần đảo Hoàng Sa. Mới nhất là việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển Hoàng Sa và vịnh Bắc bộ. Trước tình trạng gia tăng các vi phạm nghiêm trọng của Trung Quốc trên biển Đông, thông tin gần nhất cho thấy lãnh đạo Việt Nam đang tính đến biện pháp pháp lý, hay nói cách khác là kiện Trung Quốc ra toà. Trong trường hợp Việt Nam kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế, ngoài những vấn đề pháp lý, chúng ta cần dự đoán các hành động “trả đũa” có thể của Trung Quốc về kinh tế để chuẩn bị đối phó.  

Xe chở trái cây xuất khẩu ứ đọng ở biên giới Việt – Trung. Ảnh: thoibaokinhdoanh.vn

Đối với Trung Quốc, từ năm 2001, Việt Nam liên tục nhập siêu và cán cân thương mại ngày càng thâm hụt lớn. Trong khi Hoa Kỳ và EU (liên minh châu Âu) là các đối tác mà Việt Nam liên tục xuất siêu, đối với Trung Quốc, Việt Nam liên tục nhập siêu.

Cái bình, con chuột và “Tái ông thất mã”

Theo số liệu thống kê, năm 2013, trao đổi thương mại song phương Việt Nam – Trung Quốc đạt 50,2 tỉ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 13,26 tỉ USD (chiếm khoảng 10% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam), nhập khẩu đạt 36,94 tỉ USD (khoảng 28% tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam).

Để dự đoán đồng thời tìm giải pháp đối phó với những trả đũa về kinh tế mà Trung Quốc có thể sẽ áp dụng với Việt Nam, một trong những điều cần làm là hiểu rõ hơn những mạnh yếu của chúng ta trong quan hệ thương mại Việt – Trung

Gần đây, chính phủ hai nước đã thống nhất tăng kim ngạch thương mại hai chiều lên 60 tỉ USD vào năm 2015. Nếu cán cân thương mại không được cải thiện, vấn đề nhập siêu trong thương mại với Trung Quốc sẽ trở nên trầm trọng hơn, do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu. Đến nay, giá trị nhập khẩu gấp khoảng hai – ba lần giá trị xuất khẩu và không có dấu hiệu thu hẹp.

Khi nhìn vào các con số trên, có thể nhận thấy hai điều:

Đối với Việt Nam, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn và quan trọng. Nếu Việt Nam thách Trung Quốc ra toà, một kịch bản tưởng tượng và cực đoan là Trung Quốc sẽ giơ “đũa thần” làm ngưng trệ giao thương giữa hai nước. Tuy nhiên, không phải là Trung Quốc không bị “đụng chạm” gì trong trường hợp đó, vì chính Trung Quốc, và người lao động của họ, hiện cũng đang xuất khẩu đến 36,94 tỉ USD sang Việt Nam (gấp gần ba lần Việt Nam xuất sang Trung Quốc). Dĩ nhiên ảnh hưởng của 36,94 tỉ USD đối với thương mại Trung Quốc sẽ ít hơn của 13,26 tỉ USD đối với thương mại Việt Nam, nhưng không thể nói nền kinh tế Trung Quốc hoàn toàn không bị ảnh hưởng. Ném được chuột thì bình cũng không chắc còn nguyên!

Một trong số các dự án Trung Quốc trúng thầu tại Việt Nam: nhà máy khí điện đạm Cà Mau. Ảnh: TL

Sự mất cân bằng trong thương mại Việt – Trung, với phần thiệt thòi cho Việt Nam, là rõ ràng và ngày càng trở nên tồi tệ hơn nếu tiếp tục như hiện nay. Các trả đũa về thương mại dưới bất cứ hình thức nào của Trung Quốc, nếu có, cũng chỉ có thể làm Việt Nam nhập khẩu ít đi từ Trung Quốc. Điều đó, nếu xảy ra, có thể gây khó khăn cho sản xuất Việt Nam trong ngắn hạn, tuy nhiên về trung hạn và dài hạn sẽ hướng Việt Nam đến những bạn hàng bình đẳng hơn, với cán cân thương mại thăng bằng hơn cho Việt Nam, ví dụ như Hoa Kỳ và EU, và giảm sự phụ thuộc về kinh tế của Việt Nam vào Trung Quốc nhiều hơn. Với nền kinh tế của Việt Nam, đó có khi lại là sự may mắn kiểu “Tái ông thất mã”.

Dĩ độc trị độc

Khi đi sâu phân tích các mặt hàng Việt Nam nhập từ Trung Quốc, chúng ta nhận thấy nhiều hàng nông sản, 40% là các hàng hoá cơ bản, thâm dụng tài nguyên và công nghệ thấp. Hàng nông nghiệp và các sản phẩm hàng hoá cơ bản và công nghệ thấp là những sản phẩm mà Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động sản xuất được. Nếu Trung Quốc dựng hàng rào thuế quan để chặn các hàng nhập khẩu từ Việt Nam thì không lý do gì Việt Nam không thể làm tương tự đối với các mặt hàng nông sản, cơ bản và công nghệ thấp của Trung Quốc. Sự khan hiếm các mặt hàng xuất xứ Trung Quốc loại này chỉ có thể là điều tốt cho nền sản xuất Việt Nam trong trung và dài hạn.

Nếu Trung Quốc dựng hàng rào thuế quan để chặn các hàng nhập khẩu từ Việt Nam thì không lý do gì Việt Nam không thể làm tương tự đối với các mặt hàng nông sản, cơ bản và công nghệ thấp của Trung Quốc. Sự khan hiếm các mặt hàng xuất xứ Trung Quốc loại này chỉ có thể là điều tốt cho nền sản xuất Việt Nam trong trung và dài hạn

Ngoài ra, Việt Nam có xu hướng nhập khẩu từ Trung Quốc các sản phẩm phục vụ sản xuất và xây dựng như hoá chất, điện tử, máy móc thiết bị, sợi dệt. Đây là yếu điểm Trung Quốc có thể trả đũa để gây khó dễ cho nền sản xuất Việt Nam. Để đối phó với khả năng này và giảm thiểu ảnh hưởng từ sự trả đũa của Trung Quốc, Việt Nam phải đa dạng hoá nguồn nhập khẩu các sản phẩm loại trên. Ngoài ra, việc Việt Nam phải nhập các sản phẩm như sắt thép, máy móc thiết bị một phần lớn là do các nhà thầu EPC (Engnieering, Procurement, Construction) Trung Quốc hay các dự án FDI (Foreign Direct Investment) từ Trung Quốc không tuân thủ các chỉ tiêu sử dụng sản phẩm và nhà thầu Việt Nam. Do đó, Việt Nam hoàn toàn có thể cải thiện và giảm thiểu nhập khẩu từ Trung Quốc các dạng sản phẩm này nếu quản lý nghiêm chỉnh các dự án FDI, các việc chấm thầu EPC.

Cắt giảm đầu tư: không đáng ngại

FDI Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam không nhiều như các nước khác. Ví dụ như trong năm 2013, năm FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam tăng đột biến với gần 2 tỉ USD đầu tư mới để thành 2,3 tỉ USD, con số này mặc dầu tăng bất ngờ vẫn xếp xa sau các nước Nhật, Singapore, Hàn Quốc với FDI cấp mới cho năm 2013 lần lượt là 5,875 tỉ USD, 4,76 tỉ USD, và 4,46 tỉ USD.

Khủng hoảng nhiên liệu là một trong những nguyên nhân xấm lấn của Trung Quốc.
Ảnh: vovworld.vn

Tuy đầu tư vào Việt Nam không nhiều, hay nói cách khác đem đến Việt Nam không nhiều ngoại tệ, Trung Quốc lại có mức độ hưởng lợi cao hơn rất đáng kể so với các quốc gia khác. Các dự án FDI từ Trung Quốc thường đưa nhân công Trung Quốc tràn lan thành cả làng, cả phố Trung Quốc ngay trên lãnh thổ Việt Nam. Ngoài ra các công ty Trung Quốc lại kéo theo những máy móc thiết bị công nghệ cũ, lạc hậu sang làm việc.

Đơn cử trong lĩnh vực xây dựng, do quản lý yếu kém và tham nhũng, các gói thầu EPC thường rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc. Khi đó các nhà chế tạo Việt Nam hầu như không có cơ hội tham gia như nhà thầu phụ, tỷ lệ nội địa hoá = 0%.

Điều này kéo theo việc nhập khẩu nguyên liệu, máy móc thiết bị từ Trung Quốc vào Việt Nam, thay vì sử dụng nguồn nguyên vật liệu và nhân công tại chỗ, góp phần làm cho nhập siêu của Việt Nam tăng nhanh. Có thể điểm qua một số các dự án mà Trung Quốc đã trúng thầu tại Việt Nam theo hình thức EPC, như: tổ hợp bôxít – nhôm Lâm Đồng, alumin Nhân Cơ – Đắk Nông, phân đạm Cà Mau…

Do đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam không nhiều, chiếm tỷ trọng nhỏ, trong trường hợp Việt Nam kiện Trung Quốc ra toà, thì việc Trung Quốc (nếu có) cắt giảm các nguồn đầu tư cũng không thể tạo thành một sức ép đối với kinh tế Việt Nam. Thậm chí như đã phân tích, rõ ràng có nhiều vấn đề cần giải quyết đối với các dự án có yếu tố Trung Quốc. Và như bà Phạm Chi Lan đã nói trên báo Đầu tư: “Riêng với lao động Trung Quốc, chúng ta còn quá nương nhẹ, do e ngại, cả nể một cách quá đáng. Không nên nhầm lẫn giữa quan hệ chính trị với quan hệ hợp tác kinh tế”. Vì sự thật này mà sự trả đũa kinh tế của Trung Quốc càng cho thấy Trung Quốc đang nhập nhằng quan hệ kinh tế và chính trị.

Và đó sẽ là bài học quý giá, là cơ hội để Việt Nam có thêm động lực và ý chí để giải quyết hàng loạt vấn đề như: xử lý nghiêm minh các vụ việc người Trung Quốc tràn lan ở Việt Nam, tuân thủ cơ chế đấu thầu minh bạch, loại bỏ các nhà thầu Trung Quốc và các dự án FDI hạ giá bất kể chất lượng và không tôn trọng các chỉ tiêu nội địa hoá của Việt Nam. Nói cách khác, tình hình cho thấy Trung Quốc đã và đang “trả đũa” Việt Nam ngay hiện tại chứ không phải đợi lúc Việt Nam đưa tranh chấp Hoàng Sa ra trọng tài quốc tế.

Biện pháp đối phó

Mở rộng quan hệ thương mại để tránh phụ thuộc: Nếu như năm 1986 Việt Nam mới chỉ có quan hệ trao đổi hàng hoá với 43 quốc gia, năm 1995 là 100, năm 2000 là 192 thì đến hết năm 2013, con số này lên tới gần 240 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam là bạn hàng và đối tác của nhiều nước, tham gia nhiều tổ chức kinh tế như WTO, và sắp tới là TPP, cộng đồng kinh tế ASEAN.

Chúng ta phải chuyển dịch theo dòng chảy chung của thời đại, của thế giới. Để làm điều đó, Trung Quốc không thể là đối tác, là người đồng hành chiến lược, và có vị trí quá quan trọng như hiện nay

Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam, nhưng không phải là đối tác thương mại duy nhất, và khó có thể là một đối tác tốt, ổn định, bình đẳng và tuân thủ các giá trị công bằng, bảo vệ môi trường, ít nhất nếu tình hình tiếp tục diễn tiến như hiện nay.Trong khi đó, tư duy phát triển của cả thế giới đã thay đổi, với những quan điểm tăng trưởng mới như xanh, bền vững, sáng tạo, Việt Nam đang và sẽ phải đối mặt với những cải cách lớn, như môi trường, biến đổi khí hậu, hay an sinh xã hội. Việc này bắt buộc chúng ta phải chuyển dịch theo dòng chảy chung của thời đại, của thế giới. Để làm điều đó, Trung Quốc không thể là đối tác, là người đồng hành chiến lược, và có vị trí quá quan trọng như hiện nay.

Là láng giềng của Việt Nam, là nhà xuất khẩu số một thế giới, việc Trung Quốc có ảnh hưởng tương hỗ đối với kinh tế Việt Nam là điều dễ hiểu. Tuy nhiên Trung Quốc không thể (hay chưa thể) dùng ảnh hưởng đó để chi phối hoàn toàn đời sống kinh tế Việt Nam và từ đó lung lạc các quyết sách chính trị. Ít nhất Việt Nam may mắn không lệ thuộc năng lượng vào Trung Quốc, như Ukraina đối với Nga.

Nhà máy bôxit Tân Rai: góp phần làm nhập siêu từ Trung Quốc tăng nhanh. Ảnh: nangluongvietnam.vn

Hành động vì lợi ích dân tộc và chủ quyền đất nước: kiện Trung Quốc ra toà theo cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) và đồng thời yêu cầu chính thức Trung Quốc đưa tranh chấp Hoàng Sa ra phân xử tại toà án Công lý Quốc tế, là một hành động văn minh, thể hiện tinh thần thượng tôn công pháp quốc tế và hoà bình. Đó là một điều bình thường, một cách cư xử đúng đắn giữa các nước láng giềng với sự tôn trọng tối thiểu dành cho nhau.

Khi thực hiện công việc lành mạnh đó, Việt Nam có thể gặp phải các trả đũa về kinh tế của Trung Quốc. Các trả đũa này có thể gây các khó khăn cho người dân, cho sản xuất của Việt Nam, tuy nhiên về trung hạn và dài hạn, các trả đũa này nếu kéo dài sẽ là liều thuốc quý để Việt Nam giải quyết dứt điểm các vấn đề, các điểm yếu trong mối quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Các khó khăn sẽ là động lực, cơ hội để Việt Nam cải tổ cơ cấu, sản xuất, và tiêu dùng, và hướng đến các đối tác thương mại bền vững hơn, thậm chí đạt được một mối quan hệ kinh tế thương mại bình đẳng hơn với Trung Quốc. Chúng ta có thể làm điều này hiện giờ, khi các dự án FDI của Trung Quốc vào Việt Nam còn hạn chế, và mặc dầu con số thâm hụt mậu dịch khủng lồ đối với Trung Quốc, Việt Nam vẫn duy trì vị thế tương đối độc lập về kinh tế và năng lượng.

Dĩ nhiên, thời gian sẽ không đứng về phía người không hành động.

Lê Trung Tĩnh – Trần Bằng, chuyên viên nghiên cứu thuộc nhóm Biển Đông tại Pháp.

_________

Bài viết này có tham khảo các ý kiến trong và ngoài nước về việc kiện Trung Quốc ra một cơ quan trọng tài quốc tế; tài liệu của ban Quan hệ quốc tế VCCI; tài liệu của nhóm nghiên cứu Depocent và các báo trong nước.

 

Việt Nam phải kiện Trung Quốc như thế nào

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/how-to-sue-china-07022014053429.html

Trang Chính | Thời Sự

Việt Nam phải kiện Trung Quốc như thế nào

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-07-02

07022014-how-to-sue-cn.mp3

Mạn trái tàu KN 951 bị đâm rách nát, vết tích của tàu Trung Quốc đâm tàu kiểm ngư 951 tại khu vực giàn khoan Hải Dương 981 ngày 23 tháng 6, 2014.

TNO-Thanhnien online

Vấn đề Việt Nam phải kiện Trung Quốc ra trước một tòa án quốc tế vì đã đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển của Việt Nam hiện đang được nhiều người đốc thúc. Gia Minh hỏi chuyện nhà nghiên cứu Biển Đông Lê Trung Tĩnh về vấn đề đó và được ông cho biết:

Nhà nghiên cứu Biển Đông Lê Trung Tĩnh: Biện pháp pháp lý theo tôi nghĩ là cách thức tốt nhất hiệu quả, khả thi và đưa đến một giải pháp công bằng cũng như hòa bình nhất cho việc giải quyết trên Biển Đông.

Cách đây khoảng 6 tháng, vào ngày 19 tháng 1 năm 2014, tôi cùng với mọi người soạn thảo một lá thư gửi Liên Hiệp Quốc để nói rằng Trung Quốc 40 năm về trước đã xâm chiếm Hoàng Sa của Việt Nam bằng vũ lực. Trong lá thư đó tôi có nói phải kiện, phải yêu cầu chính thức đưa tranh chấp Hoàng Sa ra tòa án Công lý Quốc tế. Đó là một cách mà tôi nhắc lại một lần nữa là khả thi và hiệu quả nhất. Lá thư đó chúng tôi đã vận động được 15.588 chữ ký.

Gần đây hơn khi giàn khoan Hải Dương 981 vào Việt Nam, tôi cùng ông Nguyễn Quang A và một số người khác gửi lá thư thứ nhì yêu cầu Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa. Lá thư đó cũng như vấn đề kiện như thế nào.

Kiện như thế nào thì giàn khoan HD 981 là một hành xử của TQ mà từ đó Việt Nam có thể kiện một cách hiệu quả. Việt Nam kiện Trung Quốc đơn phương đưa giàn khoan 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của VN có sự hỗ trợ của máy bay và tàu chiến trong vùng biển của VN

Ông Lê Trung Tĩnh

Kiện như thế nào thì giàn khoan Hải Dương 981 là một hành xử của Trung Quốc mà từ đó Việt Nam có thể kiện một cách hiệu quả. Việt Nam kiện Trung Quốc đơn phương đưa giàn khoan 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam có sự hỗ trợ của máy bay và tàu chiến trong vùng biển của Việt Nam như thế ra cơ chế giải quyết tranh chấp ràng buộc của Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982. Cơ chế này có thể hình thành từ một trong ba tòa án sau: thứ nhất là Tòa Án Công Lý Quốc tế, thứ nhì là Tòa án Quốc tế về Luật BIển ITLOS ở Hamburg, Đức, thứ ba có thể là một tòa sự vụ thành lập bởi Công ước về Luật biển năm 1982 giống như Philippines đang làm.

Kết quả giải quyết tranh chấp của Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển này sẽ có thể ( khi ra ròa thì nói kết quả có thể) dẫn đến việc người ta kết luận chuyện Trung Quốc đơn phương đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hiện nay là một hành động phi pháp và buộc Trung Quốc phải rút giàn khoan ra, cũng như ngừng hoạt động gây hấn, thậm chí bằng máy bay.

Theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, các quốc gia ven biển có chủ quyền đối với nội thủy và lãnh hải của mình, chủ quyền này cũng được mở rộng vùng trời ở bên trên đến vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển (tinmoitruong.vn ngày 9/01/14)

Gia Minh: Giàn khoan Hải Dương 981 đặt tại vị trí mà mọi người cho là vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Theo thông tin Trung Quốc nói đến ngày 15 tháng 8 rút đi; mọi người nói cần phải kiện khi nó đang còn ở vị trí đó. Điều ấy có đúng không? Và việc chuẩn bị hồ sơ cần bao lâu và có thể tiến hành ngay lúc này không?

Thực ra nó ( giàn khoan) còn ở đó hay đã rút đi Việt Nam đều có thể kiện được. Nói nôm nay, đó là hành động nó đã vào nhà mình, lục tung hết đồ đạc lên, và Việt Nam có chứng cứ rõ ràng với tàu nước ngoài đi ra đó và chứng kiến

Ông Lê Trung Tĩnh

Nhà nghiên cứu Biển Đông Lê Trung Tĩnh: Thực ra nó ( giàn khoan) còn ở đó hay đã rút đi Việt Nam đều có thể kiện được. Nói nôm nay, đó là hành động nó đã vào nhà mình, lục tung hết đồ đạc lên, và Việt Nam có chứng cứ rõ ràng với tàu nước ngoài đi ra đó và chứng kiến. Phía Trung Quốc không những đi khoan dầu mà còn gây hấn với chủ nhà nữa: những tàu hải giám, cảnh sát biển của Việt Nam ra bị phun vòi rồng và đâm va rất thô bạo. Tất cả những điều đó đều được ghi lại rõ rang và thậm chí Trung Quốc không cần quan tâm che giấu những điều đó nữa. Chứng cớ phạm pháp, phạm tội đã rõ ràng rồi, nên Trung Quốc có rút đi nữa, vẫn có thể kiện chuyện đó.

Nếu giàn khoan chưa rút đi thì kết quả của vụ kiện là nó phải rút đi, còn nếu rút đi rồi thì vụ kiện lúc đó chứng tỏ Trung Quốc đã thực hiện một hành động phạm pháp. Và kết quả đó, có thể một chừng mực nào đó, đẩy vấn đề tranh chấp Hoàng Sa ra quốc tế hơn, có thể một chừng mực nào đó đẩy câu chuyện mà cho đến lúc này Trung Quốc không nói là đường lưỡi bò ra ánh sáng quốc tế hơn.

Gia Minh: Ông nói có thể kiện giàn khoan Hải Dương khi nó còn trong vùng biển của Việt Nam hay khi nó rút đi rồi, nhưng theo ông việc không kiện sớm sẽ có những bất lợi gì?

Nhà nghiên cứu Biển Đông Lê Trung Tĩnh: Theo quan điểm, cách nhìn của tôi, dĩ nhiên câu chuyện về pháp lý về chủ quyền, chủ quyền trên biển là vấn đề rất quan trọng, cần phải cân nhắc, suy xét chuẩn bị hồ sơ pháp lý rất rõ ràng. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ nếu được nên tiến hành vụ kiện sớm nhất có thể.

Theo tôi được biết từ một bài báo VN hẳn hoi thì một vị vụ trưởng Vụ Pháp chế của Việt Nam tên Nguyễn thị Thanh Hà nói rằng về mặt kỹ thuật, pháp lý VN chuẩn bị đầy đủ rồi. Nên tôi tạm có suy nghĩ rằng vấn đề quyết định hay không hoặc là người ta đang tính toán để đi đến việc đó

Ông Lê Trung Tĩnh

Theo tôi được biết từ một bài báo Việt Nam hẳn hoi thì một vị vụ trưởng Vụ Pháp chế của Việt Nam tên Nguyễn thị Thanh Hà nói rằng về mặt kỹ thuật, pháp lý Việt Nam chuẩn bị đầy đủ rồi. Nên tôi tạm có suy nghĩ rằng vấn đề quyết định hay không hoặc là người ta đang tính toán để đi đến việc đó, hoặc là một lựa chọn chính trị mà người ta đang cân nhắc.

Do đó lá thư mà chúng tôi yêu cầu chính quyền Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa là một trong chuỗi nhiều hành động của nhiều tổ chức công dân dân sự khác thúc đẩy lựa chọn chính trị đó. Vì sao? Vì đến bây giờ cách tiếp cận được Nhà nước Việt Nam theo đuổi trong tranh chấp trên Biển Đông, cũng như tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa là kiên trì đàm phán, ngoài ra còn có kiểu ’16 chữ vàng, 4 tốt’ … thì tạm thời không nói ở đây; nhưng theo tôi chỉ kiên trì đàm phán, mà chỉ kiên trì đàm phán là cách không phù hợp trong quá khứ, không còn thích hợp trong hiện tại nữa.

Vì làm sao kiên trì đàm phán với một đất nước, một đối tác, một bên khác mà họ không chấp nhận, thậm chí là có tranh chấp trên quần đảo Hoàng Sa. Làm sao đàm phán với một người mà họ không chấp nhận đàm phán nữa. Đó là điều thứ nhất, và điều thứ hai là tham vọng về đường lưỡi bò là một tham vọng nhiều năm nay và họ dần tiến đến từ thực địa cho đến ngoại giao, học thuật quốc tế. Kiên trì đàm phán một mặt nào đó để tiến đến một sự thỏa thuận nào đó, theo tôi đó là một ảo tưởng mà mình nên dứt bỏ.

Ngoài ra việc kiện là một giải pháp nói nôm na là hòa bình, hữu nghị; một mặt nào đó nó là một dạng vũ khí nhưng là vũ khí để ngăn chặn chiến tranh, ngăn chặn xung đột có thể xảy ra. Nó đưa vấn đề ra ánh sáng, giảm thiểu áp lực đơn phương và song phương mà Trung Quốc đang gây lên trên đất nước Việt Nam.

Gia Minh: Cám ơn về những thông tin mà ông chia sẻ.