Ký tên Thư gửi Tổng thống Donald Trump – Sign the Letter to President of the United States

Ký tên Thư gửi Tổng thống Donald Trump – Sign the Letter to President of the United States

Thư gửi Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump nhân chuyến thăm của ông đến Việt Nam ngày 27-28/2/2019. Lá thư nhắc lại các lần xâm lăng của Trung Quốc tại Hoàng Sa, miền Bắc Việt Nam và Trường Sa. Những người ký tên thư kêu gọi Tổng thống Hoa Kỳ yêu cầu Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế và đưa tranh chấp Hoàng Sa ra Tòa án Công lý Quốc tế. Thư đề cao vai trò của Hoa Kỳ trong việc gìn giữ hòa bình và đảm bảo quyền tự do hàng hải trên Biển Đông và kêu gọi hợp tác chặt chẽ hơn nữa giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong quân sự, thương mại và chính trị.

Mời các bạn xem thư tiếng Việt: https://goo.gl/u2Gk7f, ký tên bằng cách điền các thông tin dưới đây, và chia sẻ link ký tên này (https://thuguitongthongtrump.wordpress.com) đến nhiều người. Trân trọng cảm ơn.

 

Authors: Southeast Asian Sea Research Foundation – East Sea in France

Letter to US President Donald Trump on his visit to Vietnam on 27-28 February 2019. The letter reiterated China’s use of force and aggression in the Paracels, North of Vietnam and Spratlys. The signatories of the letter called on the US President to urge China to comply with international law and accept to bring the disputes to the International Court of Justice. The letter appreciates the role of the United States in peacekeeping and ensuring freedom of navigation in the South China Sea and calls for greater co-operation between the United States and Vietnam in military, economy and politics.

You are welcome to read the letter in English: https://goo.gl/q3bQih,  sign the letter by filling the information below, and share the link (https://thuguitongthongtrump.wordpress.com) to everybody. Thank you.

Thư gửi Tổng thống Hoa Kỳ nhân chuyến thăm Việt Nam 27-28 tháng 2 năm 2019

Người Việt Nam và công dân khắp nơi trên thế giới

Liên kết để ký tên: https://thuguitongthongtrump.wordpress.com

27 tháng 2 năm 2019

Thưa ngài Tổng thống,

Chúng tôi chào mừng ngài đến Việt Nam, đất nước mến yêu và xinh đẹp của người Việt Nam cần cù và yêu hòa bình.

Chúng tôi đánh giá cao nỗ lực và công lao của Hoa Kỳ cũng như của cá nhân ngài cho hòa bình ở bán đảo Triều Tiên và thế giới. Sự cống hiến của ngài cho một thế giới tốt đẹp hơn, nơi mọi người được tự do, các quốc gia phát triển, hợp tác và có chủ quyền được tôn trọng được chúng tôi, những người hiểu và đã chiến đấu trong suốt hai thiên niên kỷ vì tự do và độc lập, chia sẻ.

Nhân chuyến thăm Việt Nam của ngài, chúng tôi muốn nói với ngài về các sự kiện đã xảy ra và đang diễn ra gần ngày hôm nay.

  • Ngày 19 tháng 1 năm nay đánh dấu kỷ niệm bốn mươi lăm năm Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa, gây ra cái chết của 75 binh sĩ và thủy thủ Việt Nam. Chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa đã được các triều đại vua chúa Việt Nam khẳng định trong hai thế kỷ, sau đó là Pháp trong thời kỳ thuộc địa, và từ năm 1956 bởi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Sau những hành động xâm lược của Trung Quốc, quan sát viên của Việt Nam Cộng Hòa tại Liên Hợp Quốc đã yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc xem xét vấn đề. Tuy nhiên, Trung Quốc đã sử dụng quyền phủ quyết của mình trong Hội đồng Bảo an để ngăn chặn mọi nỗ lực mở ra một cuộc tranh luận về vấn đề này.
  • Ngày 17 tháng 2 năm nay đánh dấu kỷ niệm bốn mươi năm ngày Trung Quốc xâm lăng Việt Nam trên đất liền để ủng hộ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, dấy lên một cuộc chiến kinh hoàng gây ra cái chết và thương tích cho hàng chục ngàn binh sĩ và thường dân Trung Quốc và Việt Nam.
  • Ngày 14 tháng 3 năm nay đánh dấu kỷ niệm ba mươi mốt năm cuộc xâm chiếm của Trung Quốc tại Gạc Ma, Trường Sa, gây ra cái chết của 64 binh sĩ và thủy thủ Việt Nam.
  • Ngay hiện giờ người Việt Nam và Philippines đang phải đối mặt với các mối đe dọa từ Trung Quốc ở Biển Đông. Các đảo nhân tạo được quân sự hóa là một mối đe dọa cho hòa bình và luật pháp quốc tế, trong khi các tàu bảo vệ bờ biển có trang bị vũ khí và hải quân của Trung Quốc liên tục quấy rối. Hiện tại Trung Quốc đang triển khai tới 95 tàu bảo vệ bờ biển và tàu hải quân để gây áp lực lên đảo Thị Tứ hiện Philippines đang chiếm đóng.

Chúng tôi mong muốn sự chú ý của ngài đến những ngày kỷ niệm này và tình hình hiện tại với hy vọng chúng sẽ là bối cảnh cho thấy sự cần thiết phải chuẩn bị đối phó các mối đe dọa đối với hòa bình. Nhân dịp này, chúng tôi cũng muốn nhắc nhở tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là quyền tự do hàng hải và Nguyên tắc tất cả các tranh chấp quốc tế phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình.

Sự can thiệp của quân sự của Trung Quốc vào Hoàng Sa năm 1974, ở miền Bắc Việt Nam năm 1979, ở Trường Sa năm 1988 cấu thành những vi phạm rõ ràng luật pháp quốc tế. Nguyên tắc này ban đầu được ghi nhận trong Hiệp ước Briand-Kellogg năm 1928, đã được tái khẳng định một cách long trọng nhiều lần kể từ đó trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc. Do đó, Tuyên bố 1970 về các Nguyên tắc của Luật quốc tế Liên quan đến Quan hệ và Hợp tác Thân thiện giữa các Quốc gia rõ ràng tuyên bố rằng “các Quốc gia có nghĩa vụ kiềm chế việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực để vi phạm sự tồn tại của một Quốc gia khác hoặc để giải quyết tranh chấp quốc tế ở vùng biên giới quốc tế, bao gồm tranh chấp lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến biên giới của các Quốc gia”.

Thật ra không thiếu giải pháp cho các tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, một trong số đó là đệ trình tranh chấp lên Tòa án Công lý Quốc tế. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã làm ngơ với tất cả các đề xuất theo hướng này. Nếu Trung Quốc liên tục khẳng định bằng chứng về chủ quyền của mình đối với các quần đảo này, tại sao họ không đồng ý đệ trình vụ việc lên tổ chức thích hợp nhất để giải quyết các tranh chấp đó giữa các Quốc gia?

Thay vào đó, Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ Hoàng Sa và nhiều đảo, đá khác trong quần đảo Trường Sa, ủi chìm thuyền của ngư dân Việt Nam, làm ngừng các hoạt động điều tra và khai thác dầu của các công ty quốc tế như Exxon Mobil, xây dựng đảo nhân tạo và quân sự hóa chúng. Bằng cách áp đặt yêu sách đường chín đoạn bất hợp pháp của mình, Trung Quốc đe dọa tự do hàng hải, cản trở sự phát triển kinh tế, thách thức sự hiện diện của Hoa Kỳ và gây ra căng thẳng đáng kể trong khu vực.

Chúng tôi, do đó, đề nghị ngài yêu cầu Trung Quốc tôn trọng quyền tự do hàng hải và tuân thủ luật pháp quốc tế bằng cách chấp nhận đệ trình tranh chấp quần đảo Hoàng Sa ra phân xử bởi một bên thứ ba độc lập, cụ thể là Tòa án Công lý Quốc tế. Việc làm của ngài sẽ giúp cải thiện hòa bình trong khu vực và thế giới.

Chúng tôi cảm ơn ngài và Hoa Kỳ vì những hoạt động cho quyền tự hàng hải trong những năm gần đây. Chúng tôi hoan nghênh sự hiện diện lớn hơn của Hoa Kỳ và các đồng minh ở Biển Đông và hy vọng rằng các hoạt động này sẽ diễn ra với sự phối hợp nhiều hơn với Việt Nam và các quốc gia khác bị ảnh hưởng bởi các yêu sách hàng hải quá mức của Trung Quốc, như Philippines, Malaysia, Brunei.

Chúng tôi tin rằng sự hợp tác này giữa Hoa Kỳ và Việt Nam không nên chỉ dừng lại ở các cuộc tuần tra quân sự mà còn trong kinh tế và thương mại, cũng như tiếp tục cải thiện chính trị ở Việt Nam.

Một lần nữa, chúng tôi hết lòng chào đón ngài đến Việt Nam và mong những điều tốt đẹp nhất cho ngài trong chuyến đi này và cuộc gặp với Chủ tịch Kim Jong Un của Triều Tiên. Chúng ta hãy làm tất cả những gì có thể cho một thế giới hòa bình, ổn định và công bằng, nơi các quốc gia giao thương và sống với sự tôn trọng nhau. Chúng tôi tin rằng người Mỹ và người Việt Nam có thể chia sẻ mục tiêu này.

Trân trọng,

Người Việt Nam và công dân khắp nơi trên thế giới

Danh sách người ký đến hiện giờ: https://goo.gl/bQDx1k

Liên kết để ký tên: https://thuguitongthongtrump.wordpress.com

Lá thư gửi Liên Hợp Quốc có nhận được phản hồi?

Từ nhiều năm nay, nhiều người đặt câu hỏi: Lá thư gửi Liên Hợp Quốc nhân 40 năm Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa có nhận được phản hồi từ Tổng thư ký Liên Hợp Quốc? Sau 5 năm tôi thấy cần viết đôi dòng để trả lời.

 

Câu trả lời đơn giản là: chúng tôi không nhận được phản hồi nào từ các địa chỉ nhận thư. Đó là Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, Ban Pháp quyền Liên Hợp Quốc, Uỷ ban 1 của Liên Hợp quốc (Giải trừ quân bị và An ninh Quốc tế), Tòa án Công lý Quốc tế. Ngoài các địa chỉ trên, lá thư còn được gửi đến Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại LHQ là ông Lê Hoài Trung. Cũng không nhận được trả lời và không có thông tin về việc phía Việt Nam có ảnh hưởng tích cực gì đối với lá thư hay không. Tôi rất biết ơn nếu người nào có thể cung cấp thêm thông tin về các việc này (phản ứng của các địa chỉ nhận thư, tác động từ phía Việt Nam…).

 

Việc lá thư không nhận được hồi âm thật ra không khác với dự định ban đầu của lá thư là gợi nhắc người Việt và thế giới, cụ thể là các địa chỉ nhận thư, về chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, sự xâm chiếm ngang ngược của Trung Quốc năm 1974 và việc nước này từ chối các giải pháp hòa bình và pháp lý từ nhiều năm nay.

 

Tuy nhiên là người tổ chức công việc này, từ viết thư, đếm từng chữ ký, in ra và đi gửi, tôi cảm thấy trách nhiệm với từng chữ ký của từng người và nghĩ rằng bản thân mình có thể làm hơn thế.

 

Tôi đã lưu giữ rất cẩn thận các giấy tờ liên quan đến lá thư, từ biên lai gửi thư, giấy đảm bảo gửi nhận, đến giấy hồi âm đã nhận của các cơ quan trên. Tôi còn nhớ là khi chờ hoài không thấy một vài giấy hồi âm đã nhận; tôi đã gửi thư cho Bưu điện Pháp than phiền và kiên quyết đòi các giấy này. Kết quả là vài tháng sau họ phải liên lạc cho bằng được phía Mỹ để có được chữ ký của từng người nhận thư tại các địa chỉ trên. Tôi xin đính kèm như một ví dụ thư Bưu điện Pháp và Mỹ với chữ ký của nơi nhận Liên Hợp Quốc và Ban Pháp quyền Liên Hợp Quốc.

 

Do đó tôi chắc chắn là lá thư và chữ ký của các bạn đã đến với nơi cần nhận.

 

Khi nào có điều kiện, tôi sẽ đến từng nơi kể trên, tức Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, Ban Pháp quyền Liên Hợp Quốc, Uỷ ban 1 của Liên Hợp quốc (Giải trừ quân bị và An ninh Quốc tế), Tòa án Công lý Quốc tế, để trực tiếp hỏi và trao đổi về lá thư và các giải pháp cho câu chuyện.

 

Tôi nghĩ rằng lá thư này là một cột mốc quan trọng trong lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Các chữ ký của các bạn không chỉ mang tính biểu tượng, nó là sự khẳng định của những người dân Việt đối với chủ quyền của đất nước. Và tôi tin rằng đất nước Việt Nam được tạo thành từ và đại diện bởi những người Việt như các bạn, chứ không phải một thể chế nào.

 

Tôi trân trọng từng chữ ký và sự tham gia của các bạn trong công việc này cũng như những việc khác chúng ta đang làm cùng nhau: cuộc Bầu cử lãnh đạo nước Việt Nam dân chủ, hay Trưng cầu dân ý về luật đặc khu.

 

Tôi viết những dòng này trên Livenguide, mạng xã hội tôi sáng lập và phát triển, và chỉ share lại trên Facebook vì tôi bất đồng sâu sắc với cách thức của Facebook.

 

Tôi cũng nhân dịp này cảm ơn các bạn đã truyền thông cho công việc này thời điểm này 5 năm trước.

 

Cảm ơn các bạn đã tham gia, đặt câu hỏi và đi cùng.

Cuộc chiến bản đồ trước tham vọng trên Biển Đông của Trung Quốc

Lê Trung Tĩnh (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

http://plo.vn/ho-so-phong-su/cuoc-chien-ban-do-truoc-trung-quoc-727785.html

Có thể nói một phần công việc chống ngoại xâm của người Việt từ hơn 10 năm nay xoay quanh «cuộc chiến» với các bản đồ thể hiện đường chữ U trên Biển Đông và ghi Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc. Đó là những cuộc tranh đấu dân sự bằng câu chữ và lý lẽ do những người Việt trong và ngoài nước thực hiện một cách duy lý và ôn hòa. Ghi lại những điểm nổi bật của cuộc tranh đấu đó vừa cho ta những bài học thú vị từ quá khứ vừa góp phần trang bị kiến thức và cách thức cho người Việt trong cuộc kháng chiến còn trường kỳ trong tương lai.

 

Mặc dầu đã vẽ đường chữ U chiếm gần 75% diện tích Biển Đông từ những năm 1947, Trung Quốc chỉ bắt đầu thể hiện rõ rệt quyết tâm đòi hỏi phần lớn diện tích nằm trong đường này từ hơn 10 năm trở lại đây: đến năm 2007, Trung Quốc đưa ra quy định theo đó tất cả bản đồ Trung Quốc phải vẽ đường chữ U và từ năm 2012 cho in đường này trên hộ chiếu của nước họ. Còn đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Quốc đã thể hiện tham vọng của họ từ rất sớm, và cụ thể bằng những hành động xâm chiếm bằng vũ lực vào những năm 1974 và 1988.

 

Khi Trung Quốc áp đặt sự hiện diện của đường chữ U và ghi Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc bằng nhiều cách thì nước này cũng đồng thời gặp phải sự phản đối của người Việt trên toàn thế giới để bảo vệ công lý và lẽ phải.

 

Từ việc đưa đường chữ U vào bản đồ rước đuốc Thế vận hội 2008

Năm 2008, Trung Quốc vẽ đường chữ U và ghi Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc vào bản đồ rước đuốc Thế vận hội 2008. Anh Lê Minh Phiếu, khi đó đang là nghiên cứu sinh tiến sĩ luật thương mại quốc tế tại Đại học Bordeaux, Pháp đã vinh dự được công ty Sam Sung, nhà tài trợ chính cho Olympic Bắc Kinh, chọn rước đuốc tại Việt Nam. Anh Phiếu đã gửi thư bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp đến Chủ tịch Ủy ban Thế vận hội Quốc tế để phản đối hành vi trên của Trung Quốc.

 

Lá thư của anh Phiếu một mặt phủ nhận tính hợp pháp của đường chữ U và nhấn mạnh sự hiện diện của tranh chấp chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mặt khác, quan trọng hơn, lá thư đã phân tích rằng việc đưa bản đồ có lợi cho mình vào bản đồ Thế vận hội, Trung Quốc, nước chủ nhà của Thế vận hội 2008, đã chính trị hóa một sự kiện thể thao lớn vốn phải tuyệt đối phi chính trị theo Hiến chương Olympic. Trước lập luận duy lý, thuyết phục và có cơ sở pháp lý đó, Trung Quốc đã phải gỡ bỏ đường chữ U và không ghi Hoàng Sa, Trường Sa trong bản đồ rước đuốc. Tuy nhiên Trung Quốc sau đó đã có hành động trả đũa bằng cách gây áp lực làm anh Lê Minh Phiếu không được rước đuốc.

 

Đến trong các tạp chí khoa học và trên Google map

Trong những năm gần đây hơn, Trung Quốc không ngừng áp đặt các khoa học gia phải sử dụng các bản đồ Trung Quốc có đường chữ U. Đường này do đó dần xuất hiện trong các tạp chí và ấn phẩm khoa học quan trọng trên thế giới. Trước tình hình đó, nhiều nhà khoa học Việt Nam ở nhiều nơi trên thế giới vào năm 2011 đã gửi thư cho các tạp chí lên tiếng về điều này và dấy lên một làn sóng trên thế giới. Đỉnh cao là một bài báo trên Nature đã viết về chủ đề này với nhận xét việc làm của Trung Quốc đã chính trị hóa, làm mất tính trong sáng và khách quan của các bài viết khoa học. Kiến nghị của các nhà khoa học đã được đa số, nhưng cũng cần lưu ý không phải là tất cả, tạp chí lắng nghe. Một số nhà khoa học sau đã tham gia viết thư năm 2011: GS Phạm Quang Tuấn, GS Nguyễn Văn Tuấn, TS Nguyễn Hoài Tưởng, TS Trần Ngọc Tiến Dũng, TS Bùi Quang Hiển.

 

Cũng vào năm 2011 anh Lê Văn Út, khi đó đang làm tiến sĩ Toán ở Phần Lan, phát hiện trong phiên bản tiếng Hoa của Google có bản đồ Trung Quốc với đường chữ U. Ngày 26 tháng 10 năm 2011, nhiều trí thức Việt Nam trong và ngoài nước, trong đó có nhóm gồm một số người đã kể trên và TS Dương Danh Huy, TS Lê Vĩnh Trương, TS Lê Trung Tĩnh đã tham gia soạn và gửi một bức thư phản đối đến Google.

 

Lá thư nêu rõ đường lưỡi bò đã xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các quốc gia Đông Nam Á, do đó đã vi phạm Công ước của Liên hợp Quốc về luật Biển (UNCLOS). Đồng thời lá thư cũng chỉ ra rằng đường chữ U là trung tâm của các căng thẳng quốc tế nghiêm trọng ở Biển Đông.

 

Lá thư kêu gọi Google loại bỏ đường chữ U từ các trang web Google Maps với lý do việc loại bỏ này sẽ giúp tăng cường tính trung lập chính trị và tính công bằng của Google trong các tranh chấp lãnh thổ. Nó cũng sẽ là sự đảm bảo rằng Google Maps không bị sử dụng theo cách làm trầm trọng thêm căng thẳng và bất ổn trong khu vực.

 

Và xuất hiện trên các bản đồ, địa cầu thương mại

Dưới áp đặt của nhà cầm quyền Trung Quốc, không chỉ trên báo chí và tạp chí khoa học, các bản đồ, địa cầu sản xuất từ Trung Quốc đều phải có đường chữ U và ghi Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc. Các sản phẩm với các thông tin sai lệch trên sẽ được xuất khẩu qua các nước khác, và một cách vô tình được trưng bày hay bày bán tại nhiều địa điểm quan trọng. Việc đẩy mạnh tuyên truyền và thể hiện “bản đồ chữ U”,  ghi “Tây Sa”, “Nam Sa” của Trung Quốc gieo vào tâm lý mọi người trên thế giới quan điểm sai lầm rằng: “Hoàng Sa, Trường Sa của Trung Quốc và đường chữ U là một điều bình thường”. Năm này qua năm khác, quan điểm và ấn tượng sai lầm đó sẽ trở thành kiến thức phổ thông trên thế giới. Đó là điều mà chúng ta cần phải lưu ý, phản đối khi có thể đến các điểm bán hoặc trưng bày các bản đồ, địa cầu đó.

 

Như một ví dụ người viết bài này vào ngày 6 tháng 9 năm 2017 đã gửi thư cho Bảo tàng Hoàng gia Greenwich, một bảo tàng danh giá tại Vương quốc Anh, khi thấy có quả địa cầu bày bán tại Bảo tàng có đường chữ U và ghi Hoàng Sa, Trường Sa bằng tiếng Trung Quốc chứ không phải một ngôn ngữ trung tính là tiếng Anh.

 

Lá thư đã nêu rõ dưới quan điểm quốc tế, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những đối tượng đang tranh chấp giữa Việt Nam và các nước trong khu vực, trong đó có Trung Quốc. Do đó việc ghi tên hai quần đảo này trên một sản phẩm cung cấp bởi một bên thứ ba nên bằng một ngôn ngữ trung tính, cụ thể ở đây là tiếng Anh để không vô tình thiên vị cho một bên nào trong tranh chấp. Đó cũng là điều mà một địa chỉ uy tín như Bảo tàng Hoàng gia Greenwich không mong muốn.

 

Ngoài ra lá thư gửi đến Bảo tàng cũng chỉ ra tính phi pháp của đường chữ U, nguyên nhân gây ra căng thẳng và tranh chấp trong khu vực. Vào ngày 12 tháng 7 năm 2016, tòa trọng tài thuộc Tòa Thường trực Trọng Tài ở The Hague đã rõ ràng tuyên bố Trung Quốc không có bất cứ căn cứ pháp lý hay lịch sử nào để có thể tuyên bô chủ quyền lịch sử đối với vùng biển bên trong đường chữ U. Trung Quốc mặc dầu vậy không chấp nhận phán quyết của tòa và tiếp tục cho in đường chữ U trên các bản đồ của mình và xuất ra trên toàn thế giới.

 

Lá thư đề nghị Bảo tàng có hành động phù hợp với mong muốn các sản phẩm của Bảo tàng sẽ cung cấp cho người mua những thông tin chính xác và hướng thượng về địa lý và lịch sử cho thế hệ hiện tại và tương lai, đó cũng chính là sứ mệnh mà Bảo tàng theo đuổi. Nội dung lá thư được lưu tại https://goo.gl/kkDkSc

 

Bảo tàng Hoàng gia Greenwich đã phản hồi tích cực, thông báo sẽ không mua loại địa cầu đó nữa và đội ngũ mua hàng của bảo tàng đã được làm việc về kiến nghị trên để các quả địa cầu trong tương lai sẽ phù hợp hơn. Phản hồi của Bảo tàng cho thấy 2 điều. Thứ nhất, họ đã không biết được sự tồn tại của các bản đồ và quả địa cầu có thông tin sai lệch như vậy. Thứ nhì, khi được lưu ý và giải thích một cách cụ thể và thuyết phục một cách khéo léo, họ đã không ngần ngại đứng về bên của lẽ phải và công pháp quốc tế. Cả hai điều trên càng cho thấy sự cần thiết của việc lên tiếng một cách duy lý và ôn hòa để những quan điểm và ấn tượng sai lầm mà Trung Quốc đang cố gắng áp đặt không trở thành một điều mà ai cũng dễ dàng chấp nhận.

 

Các câu chuyện kể trên chỉ là một vài trong số nhiều góp ý, kiến nghị khác nhau của các cá nhân và tập thể Việt Nam trên khắp thế giới. Ngoài ra còn có thể kể đến thư kiến nghị của Hội địa lý Việt Nam đến Hội Địa lý Quốc gia Mỹ về việc Tạp chí National Geographic phát hành đã ghi “China” vào khu vực quần đảo Hoàng Sa, các kiến nghị công khai địa danh biển đảo Việt Nam của TS Dư Văn Toán, các công trình nghiên cứu miệt mài về bản đồ, lịch sử và công pháp quốc tế của TS Dương Danh Huy, Nhà nghiên cứu Phan Văn Song và Phạm Hoàng Quân.

 

Trước tham vọng vĩ cuồng của Trung Quốc trên Biển Đông, từng người Việt nói riêng và những người Đông Nam Á khác bị ảnh hưởng cần hành động nhiều hơn, nhân rộng nhiều hơn các ví dụ kể trên một cách sáng tạo, có thể sử dụng các mẫu thư trên nếu cần thiết.

 

Các thành công của cuộc tranh đấu dân sự kể trên có thể còn nhỏ nhoi so với công việc khủng lồ và đồ sộ cần phải làm. Tuy nhiên đó là những điều chúng ta có thể bắt đầu ngay từ bây giờ, vì như Mục sư Martin Luther King đã nói “It is always the right time to do the right thing” (Lúc nào cũng là lúc đúng để làm điều đúng).

Việt Nam Cộng hòa: thuộc địa kiểu mới hay quốc gia có chủ quyền?

Việt Nam Cộng hòa: thuộc địa kiểu mới hay quốc gia có chủ quyền?
http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-41148254

Dương Danh Huy và Lê Trung Tĩnh – Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Việc bộ sách Lịch Sử Việt Nam không gọi chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) bằng “Ngụy” và việc PGS-TS Trần Đức Cường, nguyên viện trưởng Viện sử học, chủ tịch Hội khoa học lịch sử VN, tổng chủ biên bộ sử này, trả lời phỏng vấn nhìn nhận, “Chính quyền Việt Nam Cộng hòa là một thực thể ở miền Nam Việt Nam”, đã nhận được nhiều sự quan tâm của báo chí và dư luận. Có ý kiến cho rằng đó là một sự tiến bộ lớn trong lãnh vực hòa hợp hòa giải dân tộc và trong việc đấu tranh cho chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Sự kiện này có tín hiệu tích cực, nhưng có vài điều cần lưu ý. Thứ nhất, “thực thể” chỉ có nghĩa một cái gì đó có hiện hữu, ở đây là đã từng hiện hữu. Tất nhiên VNCH là một thực thể ở miền Nam, và không có gì đáng mừng việc nói lên điều đó. Thứ nhì, việc gọi một chính thể trong lịch sử bằng tên của nó, thay vì bằng tên đặt ra để miệt thị nó, chỉ là tác phong bình thường của ngành sử. Điều quan trọng là bộ sử này viết gì về VNCH. Theo PGS-TS Trần Đức Cường trả lời phỏng vấn trên RFA, “Bản chất chính quyền Sài Gòn và quân đội Sài Gòn theo chúng tôi không có gì thay đổi cả. Đấy là một chính quyền được dựng lên từ đô la và vũ khí, thực hiện chiến lược toàn cầu của Mỹ, ngăn chặn chủ nghĩa Cộng Sản lan xuống vùng Đông Nam Á, đồng thời chia cắt đất nước Việt Nam một cách lâu dài, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Điều đó không có gì nghi ngờ cả.”

Phát biểu này cho thấy sự hạn chế của sự tiến bộ. Có thể tranh cãi về VNCH tốt hay xấu, hay hay dở, ở những điểm nào, nhưng quan điểm cho rằng miền Nam là “thuộc địa kiểu mới”, chính nó không có gì mới so với tuyên truyền chúng ta đã nghe trong hơn 50 năm qua.

Nhưng, dù các sử gia, hay chính trị gia, hay luân lý gia, có nói gì đi nữa thì dân tộc Việt Nam ngày nay và trong tương lai vẫn rất cần một điều mà chính quyền VNCH đã làm, trong khi chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) đã không làm: khẳng định chủ quyền Việt trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là chưa nói đến những hành vi bất lợi của VNDCCH liên quan đến hai quần đảo này.

Không những thế, chính quyền VNCH đã bảo vệ quyền lợi Việt trong tranh chấp lãnh thổ với Campuchia, trong khi chính quyền VNDCCH tuyên bố công nhận quan điểm của Sihanouk. Chính quyền VNCH còn đưa ra các yêu sách về thềm lục địa mà về sau Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) đã vận dụng trong tranh chấp với Thái Lan và Malaysia, trong khi chính quyền VNDCCH đã hoàn toàn im lặng trước yêu sách của các nước này.

Câu hỏi cho các sử gia Việt Nam là tại sao một chính quyền với bản chất như PGS-TS Trần Đức Cường nói lại làm những điều trên, tức là khẳng định chủ quyền lãnh thổ và quyền chủ quyền của một quốc gia và cho người Việt? Câu hỏi đi đôi với câu hỏi này là nếu chính quyền VNDCCH là chính quyền hợp pháp duy nhất cho vùng lãnh thổ từ Nam Quan đến Cà Mau và là đại diện pháp lý cho toàn bộ dân tộc Việt, thì tại sao lại không làm những điều đó?

Có biện luận cho rằng chính quyền VNCH là chính quyền quản lý miền Nam, cho nên chính quyền đó phải khẳng định chủ quyền, còn chính quyền VNDCCH là chính quyền quản lý miền Bắc, cho nên không cần làm.

Nhưng, thí dụ, dù chính quyền tiểu bang Alaska quản lý Alaska, chính quyền đó vẫn không có tư cách pháp nhân trong luật quốc tế để khẳng định chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ ở Alaska, và Washington vẫn phải lên tiếng về chủ quyền. Nếu chính quyền VNDCCH là chính quyền hợp pháp duy nhất cho vùng lãnh thổ từ Nam Quan đến Cà Mau, hay nếu chính quyền đó tự cho mình là như thế, thì dù có một nhóm nào đó quản lý miền Nam, chính quyền VNDCCH vẫn phải lên tiếng trên bình diện quốc tế để bảo vệ chủ quyền. Hơn nữa, nếu nhóm đó chỉ là bù nhìn và tay sai của nước khác, và sự quản lý đó là biến miền Nam thành một loại thuộc địa, thì chính quyền VNDCCH càng phải lên tiếng. Do đó, từ “quản lý” trong biện luận trên thiếu tính thuyết phục.

Trên thực tế, cho đến năm 1976, chính quyền VNCH (trước) và chính quyền CHMNVN (sau) đã hành xử như đại diện pháp lý cho vùng lãnh thổ phía nam vĩ tuyến 17 trong lãnh vực quyền lợi và nghĩa vụ trên bình diện quốc tế. Đối lại, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đã ứng xử với chính quyền VNCH (trước 30/4/1975) và chính quyền CHMNVN (sau 30/4/1975) như họ là đại diện đó. Tới năm 1966, VNCH đã được 60 quốc gia công nhận. Đáng chú ý, năm 1957 Liên Xô đã đề nghị cả VNCH và VNDCCH được chấp nhận là thành viên khác nhau của LHQ, và năm 1974 Ngoại trưởng Úc tuyên bố, “Úc đã công nhận sự hiện hữu của cả hai quốc gia từ lâu và bây giờ chính thức công nhận và có quan hệ với cả hai chính phủ, chính phủ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và chính phủ của Việt Nam Cộng Hòa”.

Với chính quyền và quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia khác, với phía nam vĩ tuyến 17 là lãnh thổ de facto và với dân cư, theo Công ước Montevideo 1933, chính thể với tên “VNCH” trước 30/4/1975 và “CHMNVN” sau 30/4/1975 đã là một quốc gia de facto với lãnh thổ phía nam vĩ tuyến 17 cho đến năm 1976. Trong quyển sách kinh điển “The creation of States in international law” (“Sự hình thành của quốc gia trong luật quốc tế”) của mình, GS James Crawford, người đã từng làm luật sư cho 23 phiên tòa của Tòa án Công lý Quốc tế và khoảng 10 phiên tòa quốc tế khác, bao gồm Tòa án Luật biển (ITLOS), Tòa Trọng tài UNCLOS, cho rằng VNCH đã từng là một quốc gia.

Việc chính quyền VNCH đại diện pháp lý cho vùng lãnh thổ phía nam vĩ tuyến 17 trong lãnh vực quyền lợi và nghĩa vụ trên bình diện quốc tế có nghĩa sự khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa của chính quyền VNCH hoàn toàn có giá trị pháp lý. Song song với điều đó, việc chính quyền VNDCCH không phải là đại diện pháp lý đó có nghĩa sự im lặng và những hành vi bất lợi của chính quyền VNDCCH sẽ ít có giá trị pháp lý đối với chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Hai điều trên là tối cần thiết trong cuộc tranh biện về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Trong lãnh vực tranh chấp lãnh thổ, chính quyền CHXHCNVN đã, đang và sẽ phải vận dụng chúng. Tuy nhiên, có lẽ có thành phần vẫn không muốn người ta nói thẳng rằng chính quyền VNCH đã từng là đại diện pháp lý cho miền Nam trên bình diện quốc tế. Đó là điều đáng tiếc, vì nhìn nhận thẳng thắn như thế về quá khứ không phải là muốn tái lập chính quyền đó và chia đôi đất nước lần nữa.

Dù đã có thay đổi, ngành sử Việt Nam cần tiến bộ xa hơn việc chỉ ngưng dùng từ “Ngụy” để gọi VNCH, cần chú trọng hơn về khía cạnh chính quyền VNCH đã từng là đại diện pháp lý cho miền Nam trên bình diện quốc tế, và cần trân trọng hơn về việc chính quyền VNCH đã từng khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền Việt trong tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp biển. Ngành sử Việt Nam cũng cần nhìn nhận rằng “thuộc địa kiểu mới” chỉ là biện ngôn để tuyên truyền trong chiến tranh, nó vô nghĩa trên thực tế, trong khi việc khẳng định chủ quyền lãnh thổ là điều có ý nghĩa mãi mãi cho dân tộc.

Việc công nhận Việt Nam Cộng hòa và tranh chấp trên Biển Đông

Việc công nhận Việt Nam Cộng hòa và tranh chấp trên Biển Đông

Lê Trung Tĩnh

http://tuoitre.vn/thua-nhan-viet-nam-cong-hoa-la-buoc-tien-quan-trong-1372210.htm

Ngày 18/8, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam giới thiệu, phát hành bộ Lịch sử Việt Nam bao quát nền lịch sử nước ta từ khởi thuỷ đến năm 2000 do Viện Sử học Việt Nam biên soạn.

Một trong nhiều điểm mới của bộ sách lịch sử quan trọng này là việc đề cập đến sự tồn tại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa như một thực thể chính trị độc lập tại miền Nam Việt Nam. Như lời trả lời phỏng vấn báo chí, PGS. TS Trần Đức Cường, nguyên viện trưởng Viện sử học, chủ tịch Hội khoa học lịch sử VN, tổng chủ biên bộ sách Lịch sử Việt Nam, đã nói «Trước đây, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam Cộng hoà, mọi người vẫn hay gọi là ngụy quân, ngụy quyền. Nhưng chúng tôi từ bỏ không gọi theo cách đó mà gọi là chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn.»

Việc từ bỏ cách gọi «ngụy quân», «ngụy quyền» và công nhận Việt Nam Cộng hòa như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng trong việc hàn gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh. Mặt khác điều này có những tác động tích cực đối với việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, cụ thể là hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa bằng công pháp quốc tế.

Nhiều tác giả, đặc biệt là Quỹ Nghiên cứu Biển Đông qua các bài viết của Tiến sĩ Dương Danh Huy, đã đi sâu về mối quan hệ giữa sự công nhận 1 hay 2 quốc gia trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975 và lập luận pháp lý bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. Các nghiên cứu này đã so sánh các cách thức, quan điểm khác nhau và đi đến kết luận rằng việc công nhận hai quốc gia Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 có lợi trong việc tranh biện pháp lý cho chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa trước Trung Quốc. Và đó cũng là quan điểm có thể chấp nhận về mặt chính trị hiện nay, so với việc chỉ công nhận một quốc gia tại miền Bắc hay tại miền Nam.

Nhận định Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa là hai quốc gia cũng là điều được chấp nhận dưới góc độ luật pháp quốc tế theo nghiên cứu của nhiều luật gia quốc tế nổi tiếng. Giáo sư James Crawford, giáo sư hàng đầu về công pháp quốc tế và là một Thẩm phán tại Tòa án Công lý Quốc tế, trong tác phẩm The Creation of States in International Law, đã cho rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa là hai quốc gia. Theo ông, việc Hiệp định Genève 1954 thiết lập hai vùng tập kết quân sự phải được xem như sự thiết lập hai quốc gia. Trên phương diện luật pháp cũng như trên thực tế, lãnh thổ của mỗi quốc gia trên không phải là toàn bộ Việt Nam. Giáo sư Crawford cho rằng ranh giới trong Hiệp định Genève đã trở thành biên giới giữa hai quốc gia. Ngoài ra sau này trong Hiệp đinh Paris 1973, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa cũng được xem như hai thể chế trong việc sử dụng quân sự, tự khẳng định đối nội và đối ngoại, đáp ứng được các điều kiện có chính phủ và khả năng có quan hệ với các chính phủ khác.

Thật ra việc công nhận Việt Nam Cộng hoà như một chính thể quan trọng trong việc gìn giữ chủ quyền của Hoàng Sa, Trường Sa đã được lãnh đạo Việt Nam đề cập trong các phát biểu quan trọng. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trong phát biểu trước quốc hội ngày 25/11/2011 đã lặp lại không dưới ba lần từ «Việt Nam Cộng hòa» và khẳng định:

«Đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức là chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hợp quốc can thiệp. »

« …quần đảo Trường Sa, năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc thì Hải Quân chúng ta đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa, đó là đảo Trường Sa, đảo Song Tử Tây, đảo Sinh Tồn, đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca, năm đảo này do quân đội của chính quyền Sài Gòn chính quyền Việt Nam Cộng hòa đang quản lý chúng ta tiếp quản.»

Cũng cần nhắc lại là ngày 19 và 20 tháng 01/1974, trong trận hải chiến Hoàng Sa với Trung Quốc, 74 binh sĩ Việt Nam Cộng hòa đã ngã xuống để bảo vệ lãnh thổ của Việt Nam. Một chính quyền và binh sĩ của chính quyền đã làm tất cả và hy sinh xương máu để bảo vệ đất nước không bao giờ là một ngụy quyền, ngụy quân.

Đó đơn giản là những người con của nước Việt, cũng như Hoàng Sa, Trường Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam cùng với Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ý nghĩa của điều đó rất rõ và trường tồn đối với dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã từng đấu tranh 1000 năm để có một lãnh thổ, và 1000 năm để giữ gìn lãnh thổ.

Từ bỏ một phần Trường Sa là ‘sai lầm’

Từ bỏ một phần Trường Sa là ‘sai lầm’

http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2015/11/151106_vn_chuquyen_biendong

Dương Danh Huy, Phan Văn Song và Lê Trung Tĩnh

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

  • 6 tháng 11 2015

Chia sẻ

Image copyrightUS NavyImage captionHoa Kỳ tuyên bố không đứng về bên nào trong tranh chấp trên Biển Đông, nhưng tuyên bố cần bảo đảm quyền tự do hàng hải quốc tế ở khu vực.

Trong bài “Việt Nam cần xét lại chiến lược Biển Đông”, Tiến sỹ Vũ Quang Việt và Phó Giáo sư Jonathan London hoàn toàn đúng khi cho rằng tương lai Việt Nam đang nằm trên bàn cân và Viêt Nam cần xét lại chiến lược của mình.

Trong bản tiếng Anh trên CogitASIA, hai tác giả cho rằng Việt Nam nên xem xét từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với tất cả các đảo đá (rock) bên trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các nước khác, (không rõ vì sao bản tiếng Việt trên BBC lại thiếu quan điểm này).

Đáng tiếc là khuyến nghị từ bỏ tuyên bố chủ quyền trong bản tiếng Anh không có cơ sở pháp lý cũng như có nhiều thiếu sót trong phân tích chiến lược, do đó có khả năng làm cho tương lai biển đảo của Việt Nam rớt từ bàn cân xuống vực thẳm.

Đáng tiếc là khuyến nghị từ bỏ tuyên bố chủ quyền trong bản tiếng Anh không có cơ sở pháp lý cũng như có nhiều thiếu sót trong phân tích chiến lược, do đó có khả năng làm cho tương lai biển đảo của Việt Nam rớt từ bàn cân xuống vực thẳmNhóm tác giả bài viết

Thiếu cơ sở pháp lý là vì theo luật quốc tế, một nước, ở đây là Việt Nam, có thể có chủ quyền đối với đảo đá trong EEZ của nước khác, thí dụ như EEZ của Philippines và Malaysia.

Thật ra, việc đòi chủ quyền với các đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa với lý do chúng nằm trong EEZ của mình, như Malaysia làm, mới chính là sai trái với luật quốc tế.

Khuyến nghị trong bài viết có nghĩa Việt Nam từ bỏ yêu sách có cơ sở pháp lý của mình và chấp nhận yêu sách không có cơ sở pháp lý của nước khác.

Thiếu sót chiến lược?

Hơn nữa, trong UNCLOS đảo đá được định nghĩa là những thực thể tự nhiên cao hơn mức thủy triều cao nhưng không duy trì được sự cư ngụ của con người hay đời sống kinh tế riêng.

Image copyrightAPImage captionNgười biểu tình Philippines với các biểu ngữ khẳng định chủ quyền và phản đối hành động của Trung Quốc ở Biển Đông trước Tòa Lãnh sự TQ ở Philippines.

Giả sử Tòa Trọng Tài phân xử vụ kiện Trung-Philippines kết luận rằng Thị Tứ, Bến Lạc, Nam Yết, An Bang, Sinh Tồn, Song Tử và các thực thể khác đều là đảo đá, hoặc giả sử Việt Nam cho chúng là đảo đá, không có vùng đặc quyền kinh tế thì,theo bài viết, Việt Nam cũng nên xét về từ bỏ tuyên bố chủ quyền với các thực thể này.

Không nước nào có thể từ bỏ tuyên bố chủ quyền hàng loạt và không căn cứ trên cơ sở pháp lý như thế.

Xét trên phương diện chiến lược, khuyến nghị đó cũng có nhiều thiếu sót.

Thứ nhất, giả sử như việc làm giảm bớt các tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Philippines và Malaysia là thật sự cần thiết cho sự hợp tác, đáng lẽ cả ba bên đều phải giảm bớt yêu sách chủ quyền, thay vì Việt Nam phải trả giá cho cả ba bằng việc đơn phương từ bỏ tuyên bố của mình trên hàng loạt thực thể địa lý.

Thứ nhì, giả sử như Việt Nam từ bỏ tuyên bố chủ quyền theo khuyến nghị đó, nhưng 10 năm sau Philippines hay Malaysia có chính sách thân Trung Quốc, không đoàn kết chống yêu sách quá lố của Trung Quốc nữa thì sao? Lúc đó khiếu nại với ai?

Rõ ràng “từ bỏ tuyên bố chủ quyền để tăng cường hợp tác” là một canh bạc có nhiều rủi ro trong đó Việt Nam có thể mất cả “lời” (nếu có) lẫn vốnNhóm tác giả bài viết

Rõ ràng “từ bỏ tuyên bố chủ quyền để tăng cường hợp tác” là một canh bạc có nhiều rủi ro trong đó Việt Nam có thể mất cả “lời” (nếu có) lẫn vốn.

Thứ ba, dù Việt Nam có trả giá bằng việc từ bỏ tuyên bố chủ quyền trên hàng loạt thực thể địa lý, sẽ vẫn còn tranh chấp giữa Philippines và Malaysia. Nếu tranh chấp chủ quyền là điều cản trở sự đoàn kết thì sự cản trở đó sẽ vẫn tồn tại, Việt Nam có trả giá cho cả ba cũng không giải quyết được vấn đề.

Thứ tư, bài viết đã bỏ qua một điều then chốt trên thực tế, đó là mặc dù có tranh chấp lãnh thổ giữa Việt Nam và Philippines, cũng như giữa Việt Nam và Malaysia, Brunei, tranh chấp đó không dẫn đến sự căng thẳng giữa Việt Nam và các nước này, mà cũng không không cản trở sự hợp tác giữa Việt Nam và họ.

Ngược lại, Việt Nam và các nước này đã và đang hợp tác trong việc đoàn kết chống Trung Quốc.

Ba ví dụ

Như một thí dụ, năm 2009 Việt Nam và Malaysia nộp một báo cáo chung về ranh giới ngoài của thềm lục địa cho Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa. Đó là một sự hợp tác quan trọng trong việc áp dụng UNCLOS cho Biển Đông.

Image copyrightAFPImage captionPhilippines cắm cờ trên bãi cạn Scarborough trên Biển Đông.

Tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đã không cản trở sự hợp tác này.

Thí dụ thứ nhì là khi Việt Nam ban hành Luật Biển 2012, trong đó có ghi Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam thì Philippines và Malaysia không phản đối. Khi Trung Quốc trả đũa Việt Nam bằng cách thiết lập Tam Sa thì Philippines phản đối Trung Quốc, bao gồm tuyên bố rằng Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp chủ quyền.

Tuyên bố của Philippines về Hoàng Sa là một sự ủng hộ cho Việt Nam.

Thí dụ thứ ba là Việt Nam là nước ủng hộ Philippines nhiều nhất trong vụ kiện Trung Quốc, qua việc gửi công hàm tới Tòa khẳng định không có ngờ vực gì là Tòa có thẩm quyền để phân xử, và khẳng định rằng trong 7 thực thể Philippines nêu ra trong hồ sơ kiện, không thực thể nào được hưởng quy chế EEZ.

Từ khi Philippines bắt đầu hiểu về hiểm họa từ Trung Quốc, tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đã không cản trở sự hợp tác Việt-Phi – những sự đụng độ duy nhất giữa lực lượng vũ trang hai nước là trên sân thể thao, sự căng thẳng duy nhất là của dây thừng kéo co.

Vì tuyên bố chủ quyền của Việt Nam không gây ra căng thẳng với Philippines và Malaysia, cũng như không cản trở hợp tác giữa Việt Nam và hai nước này, việc Việt Việt Nam từ bỏ một phần chủ quyền sẽ không đem lại lợi ích gì đáng kể mà lại là một cái giá rất đắt cho Việt Nam.

Nếu tự loại mình?

Trên thực tế, nếu Việt Nam từ bỏ tuyên bố chủ quyền như trong khuyến nghị thì đó sẽ là một món quà cho Trung Quốc và sẽ tai hại không chỉ cho Việt Nam mà còn cho toàn khu vực. Đó là một phản tác dụng nguy hiểmNhóm tác giả bài viết

Thứ năm, nếu Việt Nam tự loại mình ra khỏi tranh chấp chủ quyền trên các thực thể địa lý này thì sẽ chỉ còn lại Trung Quốc, Philippines, Malaysia và Brunei trong tranh chấp đó.

Trong số các nước còn lại, dù bỏ qua các bằng chứng thêu dệt của Trung Quốc, nước này vẫn là nước tuyên bố chủ quyền với Trường Sa trước nhất, từ sau Thế Chiến II, do đó sẽ đánh bại các nước kia một cách dễ dàng trong tranh biện pháp lý.

Đánh bại được các nước kia trong tranh biện pháp lý, tất nhiên Trung Quốc sẽ hung hăng thêm, và tình hình ở Biển Đông sẽ đen tối thêm.

Trên thực tế, nếu Việt Nam từ bỏ tuyên bố chủ quyền như trong khuyến nghị thì đó sẽ là một món quà cho Trung Quốc và sẽ tai hại không chỉ cho Việt Nam mà còn cho toàn khu vực. Đó là một phản tác dụng nguy hiểm.

Khi đưa ra khuyến nghị Việt Nam từ bỏ một phần tuyên bố chủ quyền, các tác giả cũng có thiếu sót về phương pháp.

Image copyrightReutersImage captionCác hoạt động của Trung Quốc tại một khu vực ở Trường Sa qua quan sát của Hải quân Mỹ.

Theo phương pháp khoa học, điều trước tiên họ phải làm là phân tích để xác định có gì đang gây ra căng thẳng giữa Việt Nam, Philippines và Malaysia hay không, và nếu có thì điều đó có phải là tuyên bố chủ quyền của Việt Nam hay không.

Kế đến họ phải phân tích xem những yếu tố nào đang cản trở sự hợp tác giữa Việt Nam, Philippines và Malaysia, và trong các yếu tố đó thì yếu tố nào góp phần bao nhiêu, cụ thể là tuyên bố chủ quyền của Việt Nam góp phần bao nhiêu.

Thiếu khoa học?

Trong khi chưa tiến hành phân tích nhằm chứng minh tuyên bố chủ quyền của Việt Nam góp phần đáng kể gây ra căng thẳng và là cản trở đáng kể cho sự hợp tác, mà lại khuyến nghị Việt Nam bỏ bớt tuyên bố chủ quyền, thì đó là cách tiếp cận thiếu khoa học.

Thêm vào đó, cũng không có chứng cớ để cho rằng Việt Nam cần từ bỏ bớt tuyên bố chủ quyền để có những sự hợp tác khác mà các tác giả đề nghị.Nhóm tác giả bài viết

Nếu khuyến nghị Việt Nam bỏ bớt tuyên bố chủ quyền, đáng lẽ các tác giả phải phân tích xem các tác dụng và phản tác dụng của việc đó là gì.

Việc họ hoàn toàn không có phân tích này cũng là cách tiếp cận thiếu khoa học.

Dĩ nhiên là Việt Nam, Philippines và Malaysia cần tăng cường hợp tác để chống yêu sách quá lố của Trung Quốc, nhưng thực tế các hoạt động hợp tác Việt Nam-Malaysia và Việt Nam-Philippines cho thấy các nước này có thể hợp tác mà không bên nào phải từ bỏ phần nào yêu sách chủ quyền của mình.

Thêm vào đó, cũng không có chứng cớ để cho rằng Việt Nam cần từ bỏ bớt tuyên bố chủ quyền để có những sự hợp tác khác mà các tác giả đề nghị.

 

Bài viết thể hiện của quan điểm riêng của nhóm tác giả, thành viên của nhóm Quỹ Nghiên cứu Biển Đông – chuyên theo dõi các vấn đề pháp lý, lịch sử, chủ quyền và tranh tụng biển, đảo ở khu vực này.

 

Để bảo vệ chủ quyền và tự do hàng hải

http://tuoitre.vn/tin/tuoi-tre-cuoi-tuan/van-de-su-kien/ban-doc-va-ttct/20150619/%E2%80%8Bde-bao-ve-chu-quyen-va-tu-do-hang-hai/763719.html

Để bảo vệ chủ quyền và tự do hàng hải

19/06/2015 09:55 GMT+7

Từ tháng 5-2014, tức cùng thời điểm với vụ giàn khoan Hải Dương 981, báo chí Trung Quốc bắt đầu đưa tin về việc triển khai bồi đắp các thực thể tại quần đảo Trường Sa.

Đến nay, tháng 6-2015, sau hơn một năm, Trung Quốc đã và đang hoàn thành việc bồi đắp bãi Vành Khăn, Xu Bi, Tư Nghĩa, Gaven (nằm dưới mặt biển khi thủy triều cao) và đá Chữ Thập, Châu Viên, Gạc Ma (cao hơn mặt biển khi thủy triều dâng). Nước này đã xây dựng trái phép trên các thực thể được cải tạo đó nhiều cơ sở hạ tầng, bến cảng, hệ thống viễn thông, dân sự và quân sự. Các hình ảnh vệ tinh gần đây nhất cho thấy Trung Quốc đang hoàn thành đường băng dài 3km trên đá Chữ Thập.

SO SÁNH MỨC ĐỘ XÂM PHẠM

Việc Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam đã xâm phạm vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam. Việc bồi đắp các thực thể tại Trường Sa nghiêm trọng hơn rất nhiều, là sự xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với các thực thể đó, đồng thời xâm phạm quyền chủ quyền của Việt Nam trên các vùng biển lân cận.

Nên nhớ vào ngày 14-3-1988, Trung Quốc đã dùng vũ lực cưỡng đoạt ba bãi đá ở quần đảo Trường Sa, trong đó có bãi đá Gạc Ma của Việt Nam. Trong cuộc chiến này, 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam đã tử trận. Xây cất trên bãi đá Gạc Ma và các thực thể khác thuộc Trường Sa, nước này đang xâm phạm lãnh thổ Việt Nam.

Ngoài ra, với việc chiếm đóng bằng vũ lực và từ chối giải quyết tranh chấp bằng giải pháp hòa bình, Trung Quốc đã vi phạm luật pháp quốc tế, cụ thể là Hiến chương Liên Hiệp Quốc (điều 33 và chương VI của Hiến chương) và Tuyên bố về nguyên tắc Luật quốc tế 1970 cho các quốc gia láng giềng.

Các bãi Vành Khăn, Xu Bi, Tư Nghĩa và Gaven nằm dưới mặt biển khi thủy triều cao nên việc Trung Quốc chiếm lấy và bồi đắp đi ngược lại UNCLOS 82. Ngoài ra, bãi Gaven nằm trong phạm vi 12 hải lý của đảo Nam Yết của Việt Nam, do đó việc Trung Quốc xây dựng trên đó xâm phạm vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam.

SO SÁNH VỀ MỨC ĐỘ NGUY HIỂM

Ngay từ đầu, Trung Quốc đã tuyên bố thời hạn rút giàn khoan Hải Dương 981 vào tháng 8-2014. Giàn khoan nếu tồn tại sẽ là sự xâm phạm về kinh tế và quyền chủ quyền, tuy nhiên nó không/chưa thể là một kết cấu vững chắc và đe dọa về an ninh, quân sự. Cải tạo đá thành đảo và xây sân bay quân sự trên đó là một chuyện hoàn toàn khác. Vì ngoài việc củng cố sự xâm phạm của Trung Quốc tại các đảo chiếm đóng trái phép, với việc xây dựng hệ thống cầu cảng, sân bay quân sự tại đá Chữ Thập, Trung Quốc sẽ gia tăng đáng kể sức mạnh quân sự của họ tại Trường Sa.

Nếu hoàn thành, hệ thống căn cứ của Trung Quốc tại Trường Sa, Hoàng Sa, kết nối với hạm đội tàu mặt nước, tàu ngầm, tàu sân bay, các máy bay tác chiến tầm xa, tầm trung và tầm ngắn, hệ thống tên lửa thông thường và tên lửa chiến lược sẽ bao vây Việt Nam từ bắc xuống nam, từ đông sang tây.

Ngoài ra, việc cải tạo các bãi đá chìm hay nửa chìm nửa nổi làm thay đổi hoàn toàn điều kiện tự nhiên của các thực thể này, biến nó thành các đảo, ít nhất là đảo nhân tạo. Bằng cách cải tạo và đưa người lên sinh sống tại đó, Trung Quốc đang tìm cách thay đổi đặc tính tự nhiên và pháp lý của các thực thể này, gây khó khăn, nếu không nói là không thể, cho việc giải quyết tranh chấp các thực thể sau đó bằng công pháp quốc tế. Và nhiều khả năng Trung Quốc sẽ dùng các đảo nhân tạo đó để yêu sách một vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn hơn, dần áp đặt trên thực tế yêu sách chữ U của họ trên Biển Đông.

Do đó việc cải tạo các bãi đá của Trung Quốc trên Biển Đông đặt ra một nguy cơ nghiêm trọng về pháp lý, an ninh, chính trị đối với Việt Nam nói riêng, rộng hơn là các nước trong khu vực và thế giới.

CHỦ QUYỀN LÀ TỰ DO HÀNG HẢI

Sau khi Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, lực lượng kiểm ngư Việt Nam đã tiến hành ngăn cản và thực hiện công việc thực thi pháp luật trên vùng biển của mình. Tháng 5-2014, Việt Nam đã tổ chức họp báo quốc tế, đưa phóng viên quốc tế ra tiếp cận hiện trường. Một làn sóng phản đối Trung Quốc đã lan ra trên thế giới. Suốt thời gian diễn ra sự kiện này, người Việt trong nước và khắp nơi đã tổ chức, tuần hành, biểu tình phản đối Trung Quốc.

Trước sự xâm phạm nghiêm trọng lần này, Việt Nam cần tiến hành những hình thức phản đối mạnh mẽ hơn nữa về ngoại giao, đồng thời phải có chiến dịch vận động sự ủng hộ và can dự của quốc tế một cách rõ ràng.

Khác với vụ Hải Dương 981, các hoạt động lần này của Trung Quốc ngoài việc xâm phạm Việt Nam còn ảnh hưởng đến an ninh và tự do hàng hải của cả thế giới. Việt Nam nên lên án mạnh mẽ và dứt khoát các hoạt động này của Trung Quốc tại các diễn đàn khu vực và quốc tế như ASEAN hay Liên Hiệp Quốc, giống như Việt Nam đã làm trong thời gian diễn ra vụ giàn khoan Hải Dương 981.

Chúng ta cũng cần ủng hộ mạnh mẽ chính sách và tạo điều kiện cho các quốc gia khác trong khu vực và thế giới trong việc bảo vệ quyền tự do hàng hải trên Biển Đông, một mặt nhằm bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa, mặt khác góp phần bảo vệ quyền tự do hàng hải và công lý trên Biển Đông – điều mà cả thế giới quan tâm.

LÊ TRUNG TĨNH (Quỹ nghiên cứu Biển Đông)

 

Các presentation cô đọng về Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông của Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông

Các presentation cô đọng về Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông của Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông

Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông : Biết, hiểu và hành động – power point ; pdf

Yêu sách chữ U là gì? – power point ; pdf

Sự vô lý của yêu sách chữ U – power point ; pdf

Giới thiệu về Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông – power point ; pdf

Kiện Trung Quốc và các ảnh hưởng kinh tế

http://nguoidothi.vn/kien-trung-quoc-va-cac-anh-huong-kinh-te.ndt

Kiện Trung Quốc và các ảnh hưởng kinh tế

— 07-07-2014 12:50:24

LTS. Bốn mươi năm qua, không chỉ chiếm đóng các đảo của Việt Nam, Trung Quốc còn áp đặt quyền chủ quyền lên các vùng biển quanh Hoàng Sa. Những năm gần đây, các cơ quan chấp pháp trên biển của Trung Quốc liên tục bắt giữ, xua đuổi ngư dân Việt Nam hoạt động trong ngư trường truyền thống hàng trăm năm nay ở quần đảo Hoàng Sa. Mới nhất là việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển Hoàng Sa và vịnh Bắc bộ. Trước tình trạng gia tăng các vi phạm nghiêm trọng của Trung Quốc trên biển Đông, thông tin gần nhất cho thấy lãnh đạo Việt Nam đang tính đến biện pháp pháp lý, hay nói cách khác là kiện Trung Quốc ra toà. Trong trường hợp Việt Nam kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế, ngoài những vấn đề pháp lý, chúng ta cần dự đoán các hành động “trả đũa” có thể của Trung Quốc về kinh tế để chuẩn bị đối phó.  

Xe chở trái cây xuất khẩu ứ đọng ở biên giới Việt – Trung. Ảnh: thoibaokinhdoanh.vn

Đối với Trung Quốc, từ năm 2001, Việt Nam liên tục nhập siêu và cán cân thương mại ngày càng thâm hụt lớn. Trong khi Hoa Kỳ và EU (liên minh châu Âu) là các đối tác mà Việt Nam liên tục xuất siêu, đối với Trung Quốc, Việt Nam liên tục nhập siêu.

Cái bình, con chuột và “Tái ông thất mã”

Theo số liệu thống kê, năm 2013, trao đổi thương mại song phương Việt Nam – Trung Quốc đạt 50,2 tỉ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 13,26 tỉ USD (chiếm khoảng 10% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam), nhập khẩu đạt 36,94 tỉ USD (khoảng 28% tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam).

Để dự đoán đồng thời tìm giải pháp đối phó với những trả đũa về kinh tế mà Trung Quốc có thể sẽ áp dụng với Việt Nam, một trong những điều cần làm là hiểu rõ hơn những mạnh yếu của chúng ta trong quan hệ thương mại Việt – Trung

Gần đây, chính phủ hai nước đã thống nhất tăng kim ngạch thương mại hai chiều lên 60 tỉ USD vào năm 2015. Nếu cán cân thương mại không được cải thiện, vấn đề nhập siêu trong thương mại với Trung Quốc sẽ trở nên trầm trọng hơn, do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu. Đến nay, giá trị nhập khẩu gấp khoảng hai – ba lần giá trị xuất khẩu và không có dấu hiệu thu hẹp.

Khi nhìn vào các con số trên, có thể nhận thấy hai điều:

Đối với Việt Nam, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn và quan trọng. Nếu Việt Nam thách Trung Quốc ra toà, một kịch bản tưởng tượng và cực đoan là Trung Quốc sẽ giơ “đũa thần” làm ngưng trệ giao thương giữa hai nước. Tuy nhiên, không phải là Trung Quốc không bị “đụng chạm” gì trong trường hợp đó, vì chính Trung Quốc, và người lao động của họ, hiện cũng đang xuất khẩu đến 36,94 tỉ USD sang Việt Nam (gấp gần ba lần Việt Nam xuất sang Trung Quốc). Dĩ nhiên ảnh hưởng của 36,94 tỉ USD đối với thương mại Trung Quốc sẽ ít hơn của 13,26 tỉ USD đối với thương mại Việt Nam, nhưng không thể nói nền kinh tế Trung Quốc hoàn toàn không bị ảnh hưởng. Ném được chuột thì bình cũng không chắc còn nguyên!

Một trong số các dự án Trung Quốc trúng thầu tại Việt Nam: nhà máy khí điện đạm Cà Mau. Ảnh: TL

Sự mất cân bằng trong thương mại Việt – Trung, với phần thiệt thòi cho Việt Nam, là rõ ràng và ngày càng trở nên tồi tệ hơn nếu tiếp tục như hiện nay. Các trả đũa về thương mại dưới bất cứ hình thức nào của Trung Quốc, nếu có, cũng chỉ có thể làm Việt Nam nhập khẩu ít đi từ Trung Quốc. Điều đó, nếu xảy ra, có thể gây khó khăn cho sản xuất Việt Nam trong ngắn hạn, tuy nhiên về trung hạn và dài hạn sẽ hướng Việt Nam đến những bạn hàng bình đẳng hơn, với cán cân thương mại thăng bằng hơn cho Việt Nam, ví dụ như Hoa Kỳ và EU, và giảm sự phụ thuộc về kinh tế của Việt Nam vào Trung Quốc nhiều hơn. Với nền kinh tế của Việt Nam, đó có khi lại là sự may mắn kiểu “Tái ông thất mã”.

Dĩ độc trị độc

Khi đi sâu phân tích các mặt hàng Việt Nam nhập từ Trung Quốc, chúng ta nhận thấy nhiều hàng nông sản, 40% là các hàng hoá cơ bản, thâm dụng tài nguyên và công nghệ thấp. Hàng nông nghiệp và các sản phẩm hàng hoá cơ bản và công nghệ thấp là những sản phẩm mà Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động sản xuất được. Nếu Trung Quốc dựng hàng rào thuế quan để chặn các hàng nhập khẩu từ Việt Nam thì không lý do gì Việt Nam không thể làm tương tự đối với các mặt hàng nông sản, cơ bản và công nghệ thấp của Trung Quốc. Sự khan hiếm các mặt hàng xuất xứ Trung Quốc loại này chỉ có thể là điều tốt cho nền sản xuất Việt Nam trong trung và dài hạn.

Nếu Trung Quốc dựng hàng rào thuế quan để chặn các hàng nhập khẩu từ Việt Nam thì không lý do gì Việt Nam không thể làm tương tự đối với các mặt hàng nông sản, cơ bản và công nghệ thấp của Trung Quốc. Sự khan hiếm các mặt hàng xuất xứ Trung Quốc loại này chỉ có thể là điều tốt cho nền sản xuất Việt Nam trong trung và dài hạn

Ngoài ra, Việt Nam có xu hướng nhập khẩu từ Trung Quốc các sản phẩm phục vụ sản xuất và xây dựng như hoá chất, điện tử, máy móc thiết bị, sợi dệt. Đây là yếu điểm Trung Quốc có thể trả đũa để gây khó dễ cho nền sản xuất Việt Nam. Để đối phó với khả năng này và giảm thiểu ảnh hưởng từ sự trả đũa của Trung Quốc, Việt Nam phải đa dạng hoá nguồn nhập khẩu các sản phẩm loại trên. Ngoài ra, việc Việt Nam phải nhập các sản phẩm như sắt thép, máy móc thiết bị một phần lớn là do các nhà thầu EPC (Engnieering, Procurement, Construction) Trung Quốc hay các dự án FDI (Foreign Direct Investment) từ Trung Quốc không tuân thủ các chỉ tiêu sử dụng sản phẩm và nhà thầu Việt Nam. Do đó, Việt Nam hoàn toàn có thể cải thiện và giảm thiểu nhập khẩu từ Trung Quốc các dạng sản phẩm này nếu quản lý nghiêm chỉnh các dự án FDI, các việc chấm thầu EPC.

Cắt giảm đầu tư: không đáng ngại

FDI Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam không nhiều như các nước khác. Ví dụ như trong năm 2013, năm FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam tăng đột biến với gần 2 tỉ USD đầu tư mới để thành 2,3 tỉ USD, con số này mặc dầu tăng bất ngờ vẫn xếp xa sau các nước Nhật, Singapore, Hàn Quốc với FDI cấp mới cho năm 2013 lần lượt là 5,875 tỉ USD, 4,76 tỉ USD, và 4,46 tỉ USD.

Khủng hoảng nhiên liệu là một trong những nguyên nhân xấm lấn của Trung Quốc.
Ảnh: vovworld.vn

Tuy đầu tư vào Việt Nam không nhiều, hay nói cách khác đem đến Việt Nam không nhiều ngoại tệ, Trung Quốc lại có mức độ hưởng lợi cao hơn rất đáng kể so với các quốc gia khác. Các dự án FDI từ Trung Quốc thường đưa nhân công Trung Quốc tràn lan thành cả làng, cả phố Trung Quốc ngay trên lãnh thổ Việt Nam. Ngoài ra các công ty Trung Quốc lại kéo theo những máy móc thiết bị công nghệ cũ, lạc hậu sang làm việc.

Đơn cử trong lĩnh vực xây dựng, do quản lý yếu kém và tham nhũng, các gói thầu EPC thường rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc. Khi đó các nhà chế tạo Việt Nam hầu như không có cơ hội tham gia như nhà thầu phụ, tỷ lệ nội địa hoá = 0%.

Điều này kéo theo việc nhập khẩu nguyên liệu, máy móc thiết bị từ Trung Quốc vào Việt Nam, thay vì sử dụng nguồn nguyên vật liệu và nhân công tại chỗ, góp phần làm cho nhập siêu của Việt Nam tăng nhanh. Có thể điểm qua một số các dự án mà Trung Quốc đã trúng thầu tại Việt Nam theo hình thức EPC, như: tổ hợp bôxít – nhôm Lâm Đồng, alumin Nhân Cơ – Đắk Nông, phân đạm Cà Mau…

Do đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam không nhiều, chiếm tỷ trọng nhỏ, trong trường hợp Việt Nam kiện Trung Quốc ra toà, thì việc Trung Quốc (nếu có) cắt giảm các nguồn đầu tư cũng không thể tạo thành một sức ép đối với kinh tế Việt Nam. Thậm chí như đã phân tích, rõ ràng có nhiều vấn đề cần giải quyết đối với các dự án có yếu tố Trung Quốc. Và như bà Phạm Chi Lan đã nói trên báo Đầu tư: “Riêng với lao động Trung Quốc, chúng ta còn quá nương nhẹ, do e ngại, cả nể một cách quá đáng. Không nên nhầm lẫn giữa quan hệ chính trị với quan hệ hợp tác kinh tế”. Vì sự thật này mà sự trả đũa kinh tế của Trung Quốc càng cho thấy Trung Quốc đang nhập nhằng quan hệ kinh tế và chính trị.

Và đó sẽ là bài học quý giá, là cơ hội để Việt Nam có thêm động lực và ý chí để giải quyết hàng loạt vấn đề như: xử lý nghiêm minh các vụ việc người Trung Quốc tràn lan ở Việt Nam, tuân thủ cơ chế đấu thầu minh bạch, loại bỏ các nhà thầu Trung Quốc và các dự án FDI hạ giá bất kể chất lượng và không tôn trọng các chỉ tiêu nội địa hoá của Việt Nam. Nói cách khác, tình hình cho thấy Trung Quốc đã và đang “trả đũa” Việt Nam ngay hiện tại chứ không phải đợi lúc Việt Nam đưa tranh chấp Hoàng Sa ra trọng tài quốc tế.

Biện pháp đối phó

Mở rộng quan hệ thương mại để tránh phụ thuộc: Nếu như năm 1986 Việt Nam mới chỉ có quan hệ trao đổi hàng hoá với 43 quốc gia, năm 1995 là 100, năm 2000 là 192 thì đến hết năm 2013, con số này lên tới gần 240 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam là bạn hàng và đối tác của nhiều nước, tham gia nhiều tổ chức kinh tế như WTO, và sắp tới là TPP, cộng đồng kinh tế ASEAN.

Chúng ta phải chuyển dịch theo dòng chảy chung của thời đại, của thế giới. Để làm điều đó, Trung Quốc không thể là đối tác, là người đồng hành chiến lược, và có vị trí quá quan trọng như hiện nay

Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam, nhưng không phải là đối tác thương mại duy nhất, và khó có thể là một đối tác tốt, ổn định, bình đẳng và tuân thủ các giá trị công bằng, bảo vệ môi trường, ít nhất nếu tình hình tiếp tục diễn tiến như hiện nay.Trong khi đó, tư duy phát triển của cả thế giới đã thay đổi, với những quan điểm tăng trưởng mới như xanh, bền vững, sáng tạo, Việt Nam đang và sẽ phải đối mặt với những cải cách lớn, như môi trường, biến đổi khí hậu, hay an sinh xã hội. Việc này bắt buộc chúng ta phải chuyển dịch theo dòng chảy chung của thời đại, của thế giới. Để làm điều đó, Trung Quốc không thể là đối tác, là người đồng hành chiến lược, và có vị trí quá quan trọng như hiện nay.

Là láng giềng của Việt Nam, là nhà xuất khẩu số một thế giới, việc Trung Quốc có ảnh hưởng tương hỗ đối với kinh tế Việt Nam là điều dễ hiểu. Tuy nhiên Trung Quốc không thể (hay chưa thể) dùng ảnh hưởng đó để chi phối hoàn toàn đời sống kinh tế Việt Nam và từ đó lung lạc các quyết sách chính trị. Ít nhất Việt Nam may mắn không lệ thuộc năng lượng vào Trung Quốc, như Ukraina đối với Nga.

Nhà máy bôxit Tân Rai: góp phần làm nhập siêu từ Trung Quốc tăng nhanh. Ảnh: nangluongvietnam.vn

Hành động vì lợi ích dân tộc và chủ quyền đất nước: kiện Trung Quốc ra toà theo cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) và đồng thời yêu cầu chính thức Trung Quốc đưa tranh chấp Hoàng Sa ra phân xử tại toà án Công lý Quốc tế, là một hành động văn minh, thể hiện tinh thần thượng tôn công pháp quốc tế và hoà bình. Đó là một điều bình thường, một cách cư xử đúng đắn giữa các nước láng giềng với sự tôn trọng tối thiểu dành cho nhau.

Khi thực hiện công việc lành mạnh đó, Việt Nam có thể gặp phải các trả đũa về kinh tế của Trung Quốc. Các trả đũa này có thể gây các khó khăn cho người dân, cho sản xuất của Việt Nam, tuy nhiên về trung hạn và dài hạn, các trả đũa này nếu kéo dài sẽ là liều thuốc quý để Việt Nam giải quyết dứt điểm các vấn đề, các điểm yếu trong mối quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Các khó khăn sẽ là động lực, cơ hội để Việt Nam cải tổ cơ cấu, sản xuất, và tiêu dùng, và hướng đến các đối tác thương mại bền vững hơn, thậm chí đạt được một mối quan hệ kinh tế thương mại bình đẳng hơn với Trung Quốc. Chúng ta có thể làm điều này hiện giờ, khi các dự án FDI của Trung Quốc vào Việt Nam còn hạn chế, và mặc dầu con số thâm hụt mậu dịch khủng lồ đối với Trung Quốc, Việt Nam vẫn duy trì vị thế tương đối độc lập về kinh tế và năng lượng.

Dĩ nhiên, thời gian sẽ không đứng về phía người không hành động.

Lê Trung Tĩnh – Trần Bằng, chuyên viên nghiên cứu thuộc nhóm Biển Đông tại Pháp.

_________

Bài viết này có tham khảo các ý kiến trong và ngoài nước về việc kiện Trung Quốc ra một cơ quan trọng tài quốc tế; tài liệu của ban Quan hệ quốc tế VCCI; tài liệu của nhóm nghiên cứu Depocent và các báo trong nước.